Thứ Tư, 10 tháng 4, 2013

6 bước chụp ảnh ngược sáng silhouette

Silhouette là một trong những nghệ thuật nhiếp ảnh hiệu quả đề truyền tải cảm xúc, tâm trạng tới người xem nhờ kết hợp giữa tính đơn giản và sự bí ẩn trong bức ảnh.




Chủ thể rõ ràng

Bất cứ thứ gì cũng có thể tạo bóng silhouette, tuy nhiên, do khi lên ảnh, chúng chỉ có màu đen nên người chụp cần chọn những vật với hình khối dễ nhận diện với đường viền rõ ràng.

Tắt flash

Chế độ chụp tự động với flash sẽ làm hỏng bức ảnh silhouette, do đó bạn cần đảm bảo đèn flash đã được tắt trước khi bấm máy.

Chọn nguồn sáng

Vì bạn đang chụp ảnh ngược sáng, nên càng ít ánh sáng phía trước vật cần chụp càng tốt. Nghĩa là, ảnh silhouette cần nhiều ánh sáng nền (background) thay vì chiếu sáng đằng trước.

Chọn khung hình

Bạn cần tìm một khung cảnh sáng nhưng đơn giản (càng ít chi tiết phía sau càng tốt) như bầu trời không mây để có thể làm nổi bật chủ thể.

Chụp ở chế độ tự động

Máy ảnh thường sẽ tự động chiếu sáng vật cần chụp nếu nó thấy thiếu sáng. Do đó, bạn nên hướng máy vào phần sáng nhất của bức ảnh rồi nhấn nút chụp nửa chừng (không thả tay), sau đó đưa máy trở lại phía chủ thể rồi mới chụp.

Chế độ chỉnh bằng tay (manual)

Nếu chế độ tự động (auto) không đem lại bức ảnh ưng ý, bạn cần điều chỉnh một số thông số như giảm tốc độ cửa trập và để độ mở ống kính (aperture) nhỏ.




Những kỹ thuật cơ bản trong chụp ảnh ngược sáng

Để có thể thực hiện kỹ thuật chụp ảnh ngược sáng, hãy đặt phía sau đối tượng một nguồn sáng và thay vì đo sáng chủ thể cần chụp như bình thường, hãy đo sáng vào các vùng sáng của bức ảnh.

Ảnh ngược sáng (silhouette) là những bức ảnh được tạo nên bởi những hình khối màu tối nổi bật trên phông nền sáng. Nói một cách cụ thể, trong ảnh ngược sáng, chủ thể của bức ảnh sẽ trông như một khối đen đã được loại bỏ các chi tiết để tạo sự tương phản mạnh mẽ với khung nền sáng xung quanh.

Điệu vũ hoàng hôn của tác giả Đào Phúc Quang Vũ

Để có thể thực hiện kỹ thuật chụp ảnh ngược sáng, đơn giản bạn chỉ cần đặt đối tượng cần chụp sao cho ánh sáng đến từ phía sau chủ thể; và thay vì đo sáng đối tượng cần chụp như bình thường, bạn sẽ phải đo sáng vào các vùng sáng của bức ảnh. Điều này sẽ khiến chủ thể trong ảnh trở nên thiếu sáng và trở thành một hình khối đen nổi bật trên khuôn hình.

Dưới đây là những kỹ thuật cơ bản trong kỹ thuật chụp ngược sáng được tổng hợp từ những website và diễn đàn nhiếp ảnh uy tín:

Ánh sáng nền cho chủ thể

Trong ảnh ngược sáng, cách đơn giản nhất để tạo ánh sáng nền là đặt chủ thể sao cho hướng ánh sáng mặt trời đến từ phía sau. Lưu ý, mặt trời càng thẳng góc với mẫu chụp, bạn càng dễ dàng tạo ra một bức ảnh ngược sáng có độ tương phản mạnh.

Tuổi thơ trong tôi của tác giả Nguyễn Khương Thiện trong chủ đề ảnh Ngược Sáng của Số Hóa. Độc giả bấm vào hình để xem chi tiết.


Tương tự như các kỹ thuật chụp ảnh khác, thời điểm tốt nhất để chụp ảnh thể loại này là ngoài trời lúc bình minh và khi mặt trời bắt đầu lặn. Dĩ nhiên, vẫn có thể dễ dàng tạo được một bức ảnh ngược sáng ngay trong chính ngôi nhà của mình bằng cách đặt một nguồn sáng phía sau chủ thể; hay sử dụng ánh sáng tự nhiên từ cửa sổ phòng.

Chủ thể cho ảnh ngược sáng

Bất kỳ một vật thể nào cũng có thể được dùng làm chủ thể trong ảnh ngược sáng. Tuy nhiên, để có được những bức ảnh đẹp, gây ấn tượng mạnh với người xem, bạn cần chọn những gì có hình khối hay đường nét rõ ràng – vì một khi lên ảnh, tất cả chi tiết bên trong hay màu sắc của chủ thể đó sẽ hoàn toàn bị loại bỏ.

Đo sáng nền

Với ảnh ngược sáng, hãy chọn đo sáng vào một trong các vùng sáng của phông nền thay vì đo sáng trực tiếp vào chủ thể cần chụp. Để làm được điều này, chỉ cần đơn giản hướng ống kính vào vùng sáng và có độ tương phản rõ rệt, sau đó nhấn nhẹ nút chụp hình nhanh để máy tự động đo sáng và đưa ra các thông số khẩu/tốc độ tương ứng. Khi có được giá trị khẩu độ và tốc độ này, hãy ghi nhớ chúng để có thể thiết lập lại cho đúng trong chế độ chụp thủ công (Manual) sau đó. Nếu đã có một ít kinh nghiệm về máy ảnh và yêu thích chế độ sáng tạo tùy chỉnh thủ công hoàn toàn, bạn có thể đo sáng nền sau đó nhấn nút khóa sáng rồi bố cục lại khung hình sao cho ưng ý.

Chụp tự động hay tùy chỉnh thủ công

Hầu hết máy ảnh hiện đại đều được trang bị hệ thống đo sáng tự động có độ chính xác cao để đảm bảo chủ thể của bức ảnh luôn đủ sáng. Tuy nhiên, chính vì quá “thông minh” nên người dùng sẽ gặp chút rắc rối khi máy tự động tăng sáng cho chủ thể - trái ngược hoàn toàn với tiêu chí làm cho chủ thể thiếu sáng trong chụp ảnh silhouette.

Bình minh Vũng Tàu của tác giả Du Chi Hung trong chủ đề ảnh Ngược Sáng của Số Hóa. Độc giả bấm vào hình để xem chi tiết.


Chính vì vậy, nếu sử dụng các chế độ chụp tự động hay bán tự động, khi đo sáng nền, bạn phải nhấn nhẹ nút chụp hình nhanh rồi tiếp tục giữ nguyên trong khi bố cục lại khung hình, sau đó nhấn mạnh nút này để chụp. Với hầu hết các máy ảnh hiện nay, bạn có thể chụp ảnh ngược sáng bằng cách này. Tuy nhiên, đôi khi hình ảnh không được sắc nét nếu sử dụng chế độ lấy nét tự động.

Với chế độ chụp chỉnh tay hoàn toàn, cách đơn giản nhất là sử dụng các thông số khẩu độ và tốc độ mà máy tính toán được khi đo sáng nền bằng chế độ tự động. Nếu chủ thể vẫn chưa thật tối như mong muốn, hãy tiếp tục đóng từ 1 đến 2 khẩu; hoặc sử dụng tính năng “bracketing” để máy tự động chụp nhiều ảnh ở nhiều mức độ phơi sáng khác nhau.

Tắt đèn flash

Ánh sáng từ đèn flash tích hợp trên máy sẽ làm chủ thể sáng lên và làm hỏng bức ảnh ngược sáng của bạn. Vì thế, hãy luôn nhớ tắt đèn flash, nhất là khi bạn chụp bằng các chế độ tự động.

Bố cục

Một bức ảnh chụp ảnh ngược sáng đẹp cũng cần phải có một bố cục tốt. Sự kết hợp hài hòa giữa chủ thể và phông nền giúp tác phẩm của bạn trông thú vị và lôi cuốn hơn. Người chụp có thể tận dụng những vật xung quanh như khung cửa sổ, mái vòm hay một tán cây để bức ảnh trông sinh động, gần gũi hơn với người xem.

Lấy nét

Quê hương thanh bình của Huynh Lam. Ảnh chụp bằng máy Nikon D200. Thông số: f/9, 24mm, ISO 200. Độc giả bấm vào hình để xem chi tiết.


Trong nhiếp ảnh, để có được một bức ảnh đẹp thì ngoài bố cục, độ sắc nét cũng là một yếu tố rất quan trọng. Nếu sử dụng tính năng lấy nét tự động khi chụp ảnh ngược sáng, người dùng chắc chắn sẽ gặp không ít khó khăn có thể do chủ thể không có độ tương phản; hay khi đo sáng nền và chụp bằng chế độ chụp tự động trên máy.

Để giải quyết vấn đề này, có thể sử dụng chế độ chỉnh nét bằng tay (MF) để lấy nét vào chủ thể trước khi tiến hành đo sáng vào hậu cảnh. Ngược lại, nếu không tự tin vào khả năng lấy nét thủ công, hãy sử dụng độ sâu trường ảnh lớn (thiết lập trị số khẩu độ vào khoảng f/16) để đảm bảo toàn bộ khung cảnh được chụp luôn sắc nét.

Thêm tính năng của Windows 8 vào Windows 7

Nhờ sự trợ giúp của một vài ứng dụng, Windows 7 sẽ có những cải tiến đáng giá của Windows 8 như sao chép và di chuyển tập tin nhanh hơn, có giao diện Windows Explorer được Ribbon hóa, cũng như trình quản lý tác vụ mạnh mẽ.


Cải thiện việc sao chép và di chuyển tập tin

TeraCopy hỗ trợ sao chép, di chuyển dữ liệu khá tốt.


Hộp thoại sao chép tập tin là cải thiện lớn nhất của Windows 8. Tất cả các quá trình sao chép, di chuyển đều hiển thị trong một cửa sổ duy nhất. Tính năng này có nút tạm dừng, giải quyết các xung đột tập tin thông minh hơn và nhất là nhanh hơn so với các phiên bản hệ điều hành trước.

Tuy tính năng sao chép tập tin được tích hợp trong Windows 7 không tốt bằng nhưng bạn có thể cải thiện mà không cần nâng cấp lên Windows 8 bằng cách cài đặt ứng dung TeraCopy (tải về tại đây). Tiện ích này không chỉ tăng tốc độ truyền tập tin mà còn cho phép bạn tạm dừng - một cải tiến rất thuận lợi so với chức năng mặc định của Windows.

Khi lỗi xảy ra, TeraCopy không dừng hoàn toàn như Windows 7 mà nó bỏ qua dữ liệu có vấn đề, sau đó hiển thị các tập tin “dính” lỗi ở cuối quá trình di chuyển dữ liệu. Thậm chí TeraCopy còn cho phép thay thế hoàn toàn các chức năng sao chép (copy), dán (paste) và di chuyển (move) thông thường của Windows Explorer.

Windows Explorer tốt hơn

5 năm trước, giao diện Ribbon được ra mắt với Office 2007. Trong Windows 8 có File Explorer - phiên bản được Ribbon hóa của giao diện Windows Explorer truyền thống. Ribbon cho phép truy cập các chức năng ít được sử dụng dễ dàng hơn (chẳng hạn như chuyển đổi qua lại việc hiển thị các tập tin ẩn). File Explorer mới cũng khôi phục nút Up mà cả Windows Vista và Windows 7 đều thiếu. Nút Up giúp người dùng quay lại thư mục trước đơn giản hơn.

File Explorer mới còn cho phép bạn xem các tập tin ISO bằng cách nhấp đôi chuột vào chúng. Tính năng tuyệt vời này khiến bạn không cần đến phần mềm đọc file ISO của hãng thứ ba nữa.

Better Explorer và WinCDEmu, hai tiện ích giúp Windows 7 giống Windows 8 hơn.


Nếu bạn muốn Windows Explorer của Windows 7 có giao diện Ribbon và nút Up, lựa chọn tốt nhất là Better Explorer (tải về tại đây). Tiện ích này có nhiều chức năng hơn so với File Explorer của Windows 8, nhờ khả năng hiển thị nhiều thư mục mở trong các thẻ (tab) ở phía trên cùng của cửa sổ.

Để sử dụng kết hợp TeraCopy với Better Explorer, bạn sẽ cần vào các tùy chọn của Better Explorer, đánh dấu chọn trước “Allow third-party file operation replacements” trên mục Shell. Ngoài ra, người dùng có thể cài đặt ứng dụng WinCDEmu (tải về tại đây) nếu bạn muốn thêm tính năng đọc file ISO Windows 8.

Thêm trình quản lý tác vụ mạnh mẽ hơn

Process Explorer giao diện không đẹp, nhưng rất hữu ích.


Trình quản lý tác vụ (Task Manager) của Windows 8 là phiên bản mạnh mẽ nhất từng có trong Windows. Người dùng Windows 7 có thể bổ sung hệ điều hành của mình tiện ích Process Explorer của Microsoft (tải về tại đây) để có thể quản lý tác vụ theo cách của Windows 8.

Nếu cảm thấy thích Process Explorer, người dùng có thể chuyển tiện ích này thành trình quản lý tác vụ mặc định bằng cách mở menu Options và chọn Replace Task Manager.

Thẻ Startup của CCleaner giúp người dùng quản lý các ứng dụng chạy cùng Windows.


Để quản lý các chương trình khởi động cùng Windows, bạn có thể dùng ứng dụng CCleaner (tải về tại đây). Sau khi cài đặt CCleaner, hãy vào Tools và chọn thẻ Startup. Ngoài ra, công cụ Autoruns (tải về tại đây) của Microsoft cũng là cách toàn diện nhất để xem, quản lý các chương trình tự động chạy lúc khởi động Windows.

Chuyển dữ liệu từ Android sang iPhone

Sao lưu danh bạ, đồng bộ những dữ liệu nhạc, video, hình ảnh tốn không ít thời gian của người dùng khi chuyển từ smartphone Android sang iPhone, nhưng giờ đây mọi chuyện đã trở nên thật đơn giản.

Theo số liệu thống kê gần đây, dựa vào thông tin người dùng trên chợ ứng dụng dành cho hệ điều hành Android (Google Play) và iOS (Apple Store), lượng người dùng chuyển đổi từ Android sang iPhone là 22%, nhưng chỉ có 9% chuyển ngược lại.

Số Hóa sẽ hướng dẫn bạn sao lưu trọn vẹn danh bạ, dữ liệu giải trí đa phương tiện từ smartphone Android sang iPhone.

Sao lưu danh bạ

Đối với chiếc điện thoại Android có hỗ trợ thẻ nhớ, bạn có thể sao chép danh bạ từ bộ nhớ máy ra thẻ nhớ trước khi chuyển sang iPhone, thông qua ứng dụng People có sẵn trên Android, bằng cách vào Menu, chọn Export. Khi hoàn tất, ứng dụng sẽ tạo cho bạn một tập tin *.vcf trên thẻ nhớ.

Tập tin *.vcf chứa danh bạ, được lưu trên thẻ nhớ.

Sau đó, bạn kết nối thẻ nhớ với máy tính, rồi dùng trình duyệt đăng nhập vào Gmail, nhấn vào trình đơn thả xuống ở góc bên trái – bên dưới logo Google, chọn Contacts, Import Contacts. Trên cửa sổ hiện ra, bạn chỉ đường dẫn đến tập in *.vcf đã thu được ở trên.

Lưu ý rằng, bạn cũng có thể thử thực hiện thao tác này từ trình duyệt trên smartphone Android. Nếu trình duyệt không hỗ trợ bạn hãy nhờ đến máy tính.

Tiếp tục trên iPhone, bạn vào Setting, Mail, Contacts, Calendars, nhấn vào Add Account, chọn Microsoft Exchange. Sau đó, điền vào địa chỉ Gmail, bạn có thể bỏ trống thông tin tại trường Domain, nhấn Next, chọn Accept ở bước tiếp theo. Cuối cùng, iPhone sẽ cập nhật danh bạ từ tài khoản Google đã khai báo vào điện thoại thông qua kết nối 3G/Wi-Fi.

Thiết lập email để tải danh bạ về iPhone.

Ngoài ra, còn một số ứng dụng khác có thể giúp bạn sao lưu danh bạ như Migration+ (tải về tại đây) hay Rainbow Contacts (tải về tại đây).

Sao lưu dữ liệu đa phương tiện

Trước hết, hãy kết nối chiếc điện thoại Android với một máy tính sử dụng hệ điều hành Windows hoặc OS X. Với hệ điều hành Windows, bạn mở Windows Explorer lên, tìm đến thư mục chứa video, hình ảnh trên điện thoại (thường là DCIM). Nếu các dữ liệu của bạn phân tán nhiều nơi, hoặc có quá nhiều dữ liệu trong cùng một thư mục, hãy sử dụng tính năng tìm kiếm thông minh của hệ điều hành.

Ở ô Search phía trên góc phải màn hình, bạn nhập vào phần đuôi mở rộng của các tập tin mình cần đồng bộ (như *.mp4, *.mp3…). Với hệ điều hành OS X, bạn cũng tìm kiếm tương tự trên Windows, nhưng thông qua công cụ Finder, để gọi cửa sổ tìm kiếm nhanh trên OS X, bạn nhấn tổ hợp phím Ctrl + F. Hoàn thành kiếm kiếm dữ liệu, bạn mở iTunes lên, rồi kéo vào các tập tin (âm thanh và video) trong danh sách kết quả tìm kiếm vào cửa sổ chương trình iTunes để đồng bộ qua iPhone.

iTunes hỗ trợ quản lý âm thanh, video trên iPhone.

Riêng với dữ liệu là hình ảnh, bạn có thể quản lý (thêm, xóa, sửa...) dễ dàng trên hệ điều hành Mac OS, thông qua ứng dụng iPhoto. Còn hệ điều hành Windows không hỗ trợ iPhoto, cũng như bạn không thể quản lý hình ảnh trên iTunes được, do phần mềm này không hỗ trợ loại dữ liệu này.

Ứng dụng iPhoto giúp quản lý hình ảnh trên iPhone từ Mac OS.

Tuy nhiên, chỉ với vài thiết lập, bạn có thể giúp iPhone lấy hình ảnh từ máy tính thật nhanh chóng. Đầu tiên, bạn chọn tính năng đồng độ với iPhone trên phần mềm iTunes, rồi vào thẻ Photos, đánh dấu chọn Sync Photos From, nhấn Choose Folder, chọn thư mục chứa hình ảnh trên điện thoại Android đang kết nối. Xong, iPhone của bạn sẽ có những dữ liệu trên trong lần đồng bộ tiếp theo.

Chọn tai nghe chụp tai

So với tai nghe chụp tai thiết kế đóng, mẫu sử dụng thiết kế mở cho âm trường rộng, âm thanh chi tiết hơn, nhưng nốt trầm vẫn không thể uy lực bằng.

Tạp chí Cnet đã tổng hợp những đặc điểm thiết kế của 2 dạng tai nghe chụp tai on-ear và around-ear, nhằm mang đến cho người dùng những kiến thức cơ bản nhất để phân biệt và chọn lựa sản phẩm này.

Thiết kế ngoại hình dạng on-ear hay around-ear

Thị trường ngày càng xuất hiện nhiều thương hiệu tai nghe dạng chụp tai, nhưng nhìn chung chỉ gồm 2 dạng kiểu thiết kế ngoại hình chính là tai nghe on-ear và around-ear. Tai nghe on-ear hay còn có tên gọi khác là supra-aural headphone - cơ bản cũng là dạng tai nghe chụp đầu với 2 củ tai tiếp xúc trực tiếp lên vành tai người dùng. Trong khi đó, tai nghe dạng chụp đầu kiểu around-ear headphone, còn được gọi là circumaural headphone, lại được trang bị 2 củ tai đường kính lớn với phần đệm mút củ tai ôm trọn vành tai người nghe.

Sennheiser HD 25 Originals là mẫu tai nghe dạng on-ear sử dụng thiết kế đóng. Ảnh:Quỳnh Lâm.

Cả hai dạng tai nghe này đều có những đặc điểm thiết kế riêng cho từng mục đích sử dụng của người dùng. Chẳng hạn, tai nghe on-ear thường có kích thước 2 củ tai nhỏ nên phù hợp hơn với nhu cầu di động. Củ tai của những mẫu tai nghe on-ear thường được trang bị đệm mút khá dày nhằm mang lại thoải mái một khi người nghe đặt củ tai tiếp xúc trực tiếp lên vành tai. Trên một số bộ on-ear hiện nay, phần đệm mút ở mỗi củ tai có thể còn được bọc da nhân tạo. Chi tiết thiết kế này tuy giúp cho sản phẩm trông sang trọng và loại bỏ tạp âm thụ động hiệu quả hơn, nhưng cũng gây bất tiện đáng kể khi sử dụng liên tục. Với dạng này, người dùng nên lựa chọn những mẫu được hãng thiết kế khớp xoay trên vòm chụp đầu, nhằm giảm đáng kể lực tác động từ củ tai lên vành tai mỗi khi nghe.

V-Moda M100 (bên phải) và Sennheiser HD 700 là 2 mẫu tai nghe around-ear sử dụng thiết kế mở. Ảnh: Cnet.

Hoàn toàn khác biệt với những mẫu tai nghe on-ear, tai nghe around-ear thường có củ tai lớn hơn nhiều và thường được trang bị những driver đường kính lớn như mẫu Sennheiser HD 700 với driver đường kính 40 mm hay mẫu V-Moda M100 sử dụng driver đường kính 50 mm. Do kích thước củ tai lớn, nên các nhà sản xuất tai nghe dạng này có nhiều “không gian” trong việc sắp đặt màng loa bên trong mỗi củ tai hơn – cụ thể như tăng/giảm khoảng cách từ màng loa đến tai người nghe, đặt màng loa theo một góc nghiêng; hay thậm chí trang bị thêm nhiều driver hơn vào bên trong mỗi củ tai nhằm mang đến những trải nghiệm âm thanh tốt hơn.

Bên cạnh những ưu điểm trên, tai nghe around-ear dĩ nhiên cũng có những nhược điểm như ngoại hình lớn, khó phục vụ nhu cầu di động, một số mẫu thiết kế dạng củ tai cách điệu như Razer Electra không hoàn toàn “vừa vặn” cho mọi cỡ tai người dùng.

Thiết kế dạng đóng (closed-back) hoặc mở (open-back)

Tương tự như những dòng tai nghe khác, cả 2 dạng tai nghe on-ear và around-ear đều được các hãng sản xuất theo kiểu thiết kế dạng đóng (closed-back) hay thiết kế mở (open-back). Cách cơ bản để phân biệt tai nghe chụp tai sử dụng kiểu thiết kế nào là quan sát mặt ngoài mỗi củ tai của sản phẩm. Những bộ tai nghe thiết kế dạng đóng thường có phần mặt ngoài 2 củ tai kín như mẫu Phiaton PS 500 hay Sennheiser HD 419. Trong khi đó, những mẫu sử dụng thiết kế mở thường không sử dụng vật liệu che kín toàn bộ mặt ngoài củ tai mà thay vào đó là những dạng lưới kim loại, lưới tổ ong hay các khe nhỏ như mẫu V-Moda M-100, Sennheiser HD 570s và Grado SR225i.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng cách phân biệt này đôi khi cũng không hoàn toàn chính xác vì một số bộ tai nghe có thiết kế dạng closed-back vẫn sử dụng lưới kim loại để trang trí mặt ngoài củ tai như mẫu HD 439 của Sennheiser.

Tuy cũng sử dụng thiết kế lưới kim loại bọc ngoài, nhưng Sennheiser HD 439 vẫn là một bộ tai nghe sử dụng thiết kế đóng (close-back design). Ảnh: Quỳnh Lâm.


Mỗi dạng thiết kế này đều có ưu và nhược điểm riêng. Cụ thể, thiết kế đóng có ưu điểm là khả năng loại bỏ tạp âm thụ động từ môi trường bên ngoài khá mạnh mẽ do đệm mút củ tai tiếp xúc trực tiếp lên vành tai người dùng. Chất lượng nốt trầm của tai nghe thiết kế đóng cũng có phần tốt hơn so với tai nghe thiết kế mở có giá thành tương đương. Tuy nhiên, chính thiết kế “cô lập” âm thanh bên trong củ tai này lại khiến cho âm thanh thiếu đi sự trung thực cần có. Những bộ tai nghe sử dụng thiết kế đóng hơn nữa cũng mang lại cảm giác “nóng tai” nhanh hơn.

Bên cạnh đó, thiết kế đóng cũng mang lại cho người nghe cảm giác như âm thanh chỉ “gò bó” trong đầu và âm trường khá hạn chế. Một bộ tai nghe dạng thiết kế close-back sẽ chỉ được cho là tốt nếu có khả năng tái tạo âm trường không quá hẹp. Tuy vậy, khi so với những bộ tai nghe thiết kế mở có giá trị tương đương, độ rộng âm trường của tai nghe sử dụng thiết kế đóng, dĩ nhiên, vẫn không thể nào ngang bằng được.

Tai nghe on-ear Sony MDR-XB300 có phần đệm mút củ tai dày, bọc da nhân tạo chống ồn thụ động khá hiệu quả. Ảnh: Quỳnh Lâm.


Ví dụ với mẫu SR225i (thiết kế dạng open-back) của Grado, người nghe tuy vẫn có thể nghe khá rõ những âm thanh từ môi trường xung quanh và lẽ đương nhiên, người xung quanh cũng có thể biết bạn đang nghe gì. Tiếng bass của bộ tai nghe này cũng không “nặng” bằng những mẫu tai nghe thiết kế đóng. Mặc dù vậy, Grado SR225i vẫn được đánh giá là một bộ tai nghe có một chất âm tuyệt vời, các dải âm cao trong trẻo, âm trung mượt mà và độ chi tiết tổng thể cao hơn bất kỳ một bộ tai nghe chụp tai thiết kế đóng nào khác trên thị trường.

Có thể nói, thiết kế dạng tai nghe open-back tuy có nhược điểm là không phù hợp với những môi trường ồn ào (do thiết kế mặt ngoài củ tai hở), tiếng bass không thể sâu và nặng bằng kiểu tai nghe close-back; nhưng nếu bạn cần một bộ tai nghe với chất âm tự nhiên, độ chi tiết âm thanh tốt và âm trường rộng rãi hơn thì dạng tai nghe open-back là một lựa chọn lý tưởng.

Tóm lại, với những môi trường náo nhiệt, một bộ tai nghe on-ear sử dụng thiết kế đóng sẽ là một lựa chọn thích hợp bởi khả năng loại bỏ tạp âm thụ động cao. Tuy vậy, nếu khả năng tài chính dư giả, bạn có thể tậu hẳn một bộ tai nghe around-ear dạng đóng với tính năng loại bỏ tạp âm chủ động (mạch xử lý tạp âm tích hợp). Nếu muốn thưởng thức âm thanh tự nhiên hơn, độ chi tiết cao và âm trường rộng hơn, bạn có thể chọn loại tai nghe on-ear hay around-ear sử dụng thiết kế mở (open-back design).
DBS M05479
Quang Cao