Thứ Tư, 10 tháng 10, 2012

Cách đọc thông số và lựa chọn khi mua Ram cho máy PC

Ví dụ: KINGMAX 1GB DDR2 667
Diễn giải:
Kingmax: hãng sản xuất ra thanh ram trên.
1GB: dung lượng
DDR2: chủng loại Ram
667: tốc độ bus



Khi tìm mua bộ nhớ cho máy tính, có một số yếu tố bạn sẽ phải cân nhắc và quyết định để chọn đúng RAM. Tuy nhiên có 2 vấn đề thường được xem là quan trọng nhất, đó là giá cả và chất lượng RAM.

Khi lựa chọn RAM cần chú ý các thông số phải tương thích mainboard và CPU.
Đầu tiên là chủng loại RAM.
Nên chú ý xem main board của bạn hỗ trợ loại RAM nào.

Các loại DRAM

SDRAM
(Viết tắt từ Synchronous Dynamic RAM) được gọi là DRAM đồng bộ. SDRAM gồm 3 phân loại: SDR, DDR, và DDR2.
o SDR SDRAM (Single Data Rate SDRAM), thường được giới chuyên môn gọi tắt là "SDR". Có 168 chân. Được dùng trong các máy vi tính cũ, bus speed chạy cùng vận tốc với clock speed của memory chip, nay đã lỗi thời.
DDR SDRAM (Double Data Rate SDRAM), thường được giới chuyên môn gọi tắt là "DDR". Có 184 chân. DDR SDRAM là cải tiến của bộ nhớ SDR với tốc độ truyền tải gấp đôi SDR nhờ vào việc truyền tải hai lần trong một chu kỳ bộ nhớ. Đã được thay thế bởi DDR2.
DDR2 SDRAM (Double Data Rate 2 SDRAM), Thường được giới chuyên môn gọi tắt là "DDR2". Là thế hệ thứ hai của DDR với 240 chân, lợi thế lớn nhất của nó so với DDR là có bus speed cao gấp đôi clock speed.
RDRAM (Viết tắt từ Rambus Dynamic RAM), thường được giới chuyên môn gọi tắt là "Rambus". Đây là một loại DRAM được thiết kế kỹ thuật hoàn toàn mới so với kỹ thuật SDRAM. RDRAM hoạt động đồng bộ theo một hệ thống lặp và truyền dữ liệu theo một hướng. Một kênh bộ nhớ RDRAM có thể hỗ trợ đến 32 chip DRAM. Mỗi chip được ghép nối tuần tự trên một module gọi là RIMM (Rambus Inline Memory Module) nhưng việc truyền dữ liệu được thực hiện giữa các mạch điều khiển và từng chip riêng biệt chứ không truyền giữa các chip với nhau. Bus bộ nhớ RDRAM là đường dẫn liên tục đi qua các chip và module trên bus, mỗi module có các chân vào và ra trên các đầu đối diện. Do đó, nếu các khe cắm không chứa RIMM sẽ phải gắn một module liên tục để đảm bảo đường truyền được nối liền. Tốc độ Rambus đạt từ 400-800MHz
Rambus tuy không nhanh hơn SDRAM là bao nhưng lại đắt hơn rất nhiều nên có rất ít người dùng. RDRAM phải cắm thành cặp và ở những khe trống phải cắm những thanh RAM giả (còn gọi là C-RIMM) cho đủ.

Dung lượng

Dung lượng RAM được tính bằng MB và GB, thông thường RAM được thiết kế với các dung lượng 128, 256, 512 MB, 1 GB, 2 GB... Dung lượng của RAM càng lớn càng tốt cho hệ thống, tuy nhiên không phải tất cả các hệ thống phần cứng và hệ điều hành đều hỗ trợ các loại RAM có dung lượng lớn, một số hệ thống phần cứng của máy tính cá nhân chỉ hỗ trợ đến tối đa 4 GB và một số hệ điều hành (như phiên bản 32 bit của Windows XP) chỉ hỗ trợ đến 3 GB.

BUS

Lựa chọn bus bằng cách: Lấy bus CPU chia 2.
SDR SDRAM được phân loại theo bus speed như sau:
o PC-66: 66 MHz bus.
o PC-100: 100 MHz bus.
o PC-133: 133 MHz bus.
DDR SDRAM được phân loại theo bus speed và bandwidth như sau:
o DDR-200: Còn được gọi là PC-1600. 100 MHz bus với 1600 MB/s bandwidth.
o DDR-266: Còn được gọi là PC-2100. 133 MHz bus với 2100 MB/s bandwidth.
o DDR-333: Còn được gọi là PC-2700. 166 MHz bus với 2667 MB/s bandwidth.
o DDR-400: Còn được gọi là PC-3200. 200 MHz bus với 3200 MB/s bandwidth.
DDR2 SDRAM được phân loại theo bus speed và bandwidth như sau:
o DDR2-400: Còn được gọi là PC2-3200. 100 MHz clock, 200 MHz bus với 3200 MB/s bandwidth.
o DDR2-533: Còn được gọi là PC2-4200. 133 MHz clock, 266 MHz bus với 4267 MB/s bandwidth.
o DDR2-667: Còn được gọi là PC2-5300. 166 MHz clock, 333 MHz bus với 5333 MB/s bandwidth.
o DDR2-800: Còn được gọi là PC2-6400. 200 MHz clock, 400 MHz bus với 6400 MB/s bandwidth.


Khi gắn Ram cho main nên gắn hai thanh giống nhu nhau về nhà sản xủất, dung lượng, bus, để có thể chạy ở chế độ Double channel, giúp tăng hiệu xuất hệ thống, nếu main của bạn có hỗ trợ chế độ double channel

Ngoài các yếu tố trên, còn một số yếu tố nữa mà ít người dùng quan tâm, đó là: số lượng chip nhớ trên mỗi thanh RAM, RAM một mặt hay hai mặt, chíp hàn hay chíp dán. Thường thì những yếu tố này gắn liền với giá tiền của thanh RAM, do vậy nếu bạn chọn loại RAM chất lượng từ trung bình trở lên thì mặc nhiên có sẵn. Còn nếu hai loại bằng giá, bạn hãy chọn loại có nhiều chip nhớ, loại 2 mặt chip nhớ thay vì một mặt, loại dùng chip dán thay vì chip hàn.

Thực tế cho thấy, loại RAM có nhiều chip nhớ có tính tương thích cao hơn loại RAM có ít chip nhớ, tức là dùng được cho nhiều loại mainboard. Gần đây, một số loại mainboard đời mới dùng chipset Intel 946 hoặc G31 hay “đỏng đảnh” với RAM một mặt và hai mặt, do vậy bạn nên lưu ý khi chọn hai loại mainboard này. Hiện nay, ngày càng có nhiều loại RAM dùng chip dán, bởi đặc điểm của loại này là ít nóng (tỏa nhiệt ít), năng lượng tiêu thụ thấp, tốc độ truyền dữ liệu nhanh nhờ kích thước chip nhớ nhỏ, lắp được nhiều chip nhớ trên diện tích nhỏ...


RAM cao cấp và khả năng đáp ứng

Loại RAM cao cấp có giá rất cao và tính ổn định của nó cũng cao hơn so với những loại rẻ tiền hơn. Ngoài tính ổn định, loại RAM này đặc biệt phù hợp cho máy tính phục vụ công việc đồ họa, xử lý phim, chơi game và những người thích ép xung (over clock) một số linh kiện trong máy tính để máy chạy ở tốc độ cao hơn tốc độ thực của linh kiện, khả năng ép xung của loại RAM này tối thiểu phải là 10%. Chính vì vậy, loại này thường có thêm phần tản nhiệt bằng nhôm.

Hiện nay, trên thị trường có rất ít nhãn hiệu RAM cao cấp, có thể đếm trên đầu ngón tay, như: Corsair, Muskin và “tân binh” Super Talent, riêng loại RAM nhãn hiệu Muskin không được bán rộng rãi, chỉ có bán ở công ty Viễn Sơn.

Trong số này, đặc biệt nhất vẫn là RAM nhãn hiệu Corsair ở chủng loại twin (cặp đôi), không chỉ đặc biệt về giá mà còn đặc biệt ở cả cách lắp, phải lắp sao cho có đôi thì mới dùng được! Nghĩa là một khi đã chọn RAM nhãn hiệu Corsair chủng loại twin,â bạn phải mua 2, hoặc 4, hoặc 6... thanh RAM giống nhau về dung lượng và bus để lắp vào máy tính, lúc đó máy tính mới hoạt động. Chính vì vậy mà loại RAM này rất phù hợp với mainboard hỗ trợ RAM kênh đôi (dual channel).

Nếu bạn không có ý định chọn mua một cặp Ram cao cấp, thì KingMax hay KingStone là sự lựa chọn hợp lý về túi tiền và hiệu suất vận hành.

Điều cuối cùng: Cho dù, bạn chọn loại RAM cao cấp đến cỡ nào đi chăng nữa thì khả năng lỗi vẫn có thể xảy ra với tần số thấp. Do vậy, máy tính dùng RAM cao cấp của bạn vẫn có thể “sớm nắng chiều mưa” vì lỗi RAM, đây là chuyện bình thường của tất cả các mặt hàng điện tử, bởi nó còn phụ thuộc vào yếu tố may rủi khi mua!

Thứ Hai, 8 tháng 10, 2012

chụp cận cảnh - Đảo ngược ống kính


Nếu bạn sở hữu một ống kính tiêu cự cố định 50mm hoặc một ống kít kèm máy (thường là ống 18-55mm) thì việc đảo ngược ống để chụp macro là phương pháp kinh tế nhất.


Đảo ngược ống kính là việc tháo ống ra khỏi máy, quay chấu nối ra ngoài, đầu ống kính nối vào thân máy thông qua adapter, hoặc một ống kính lắp vào thân máy, một ống kính đảo đầu nối tiếp với đầu ống sẵn có bằng adapter thành một tổ hợp ống.


Sơ đồ cách thức đảo ống.


Sơ đồ trên trình bày một cách cơ bản cách thức đảo ống để chụp cận cảnh. Thông thường một ống 50mm thu ánh sáng từ chủ thể và tái hiện trên cảm biến với kích cỡ nhỏ hơn nhiều lần. Việc đảo ống kính khiến cho quy trình này cũng đảo ngược, ống 50mm lúc này sẽ phóng đại hình ảnh thu được từ chủ thể, làm cho kích cỡ của nó trên cảm biến gần với kích cỡ thực tế hơn.

Có hai cách đảo chiều ống kính thông dụng.
1. Dùng một ống


Vòng adapter đảo chiều.


Bằng việc sử dụng vòng adapter đảo chiều với một đầu vặn vào ống kính, một đầu có chấu nối với thân máy, bạn có thể quay ngược ống kính đang dùng và lắp vào thân máy như bình thường.


Ống kính sau khi đã được đảo chiều và lắp trên thân máy.


Phương pháp này hiệu quả nhất với các ống có vòng độ mở chỉnh tay. Do khoảng nét càng giảm khi bạn càng gần đối tượng, vì thế, với độ phóng đại lớn hơn khi đảo chiều, bạn có thể khép bớt khẩu độ để đảm bảo có khoảng nét hiệu quả.

Nếu ống kính không có vòng độ mở chỉnh tay, bạn sẽ không điều chỉnh khép khẩu được và phải chấp nhận chụp với độ mở tối đa của ống kính. Tuy nhiên, nếu khéo léo, kể cả khoảng nét rất mỏng với khẩu độ rộng nhất (với ống 50mm), bạn vẫn có thể có được ảnh cận cảnh ấn tượng như bức ảnh dưới đây:


Ảnh của tác giả Roni / Digitalphotographyschool.

2. Dùng 2 ống


Adapter để nối ống.


Cũng bằng việc sử dụng vòng chuyển adapter, bạn có thể đảo chiều một ống và nối vào ống kính sẵn có của mình, tạo nên một tổ hợp ống có khả năng chụp cận cảnh rất cao (ảnh dưới). Để dễ hình dung, trong khi các ống chuyên chụp cận cảnh thường chỉ có độ diop +10 (độ diop càng cao, độ phóng đại càng lớn) thì một ống 50mm đảo chiều có thể đạt +20 diop, còn một ống 24mm đảo chiều có thể lên tới +41.6 diop.


Ống 50mm đảo chiều được gắn với ống 85mm.


Bạn có thể dùng bất kỳ ống kính nào làm ống chính để nối với ống đảo chiều. Tiêu cự ống càng dài, độ phóng đại càng lớn. Vấn đề chỉ là sao cho đường kính ống giống nhau hoặc gần với nhau mà thôi (chẳng hạn cùng phi 58mm, hoặc phi 52mm và 58mm). Các adapter nối cùng phi và khác phi có thể dễ dàng tìm mua tại các cửa hàng phụ kiện máy ảnh với mức giá khá rẻ.

Một lợi thế của việc sử dụng hai ống kính là dù cho khẩu độ trên ống đảo mở hết cỡ cũng không sao, bạn vẫn có thể chỉnh độ mở trên ống chính để tăng khoảng nét. Tùy thuộc vào các ống bạn dùng làm ống chính và ống đảo, bạn có thể có tổ hợp kính phóng đại được đối tượng lớn gấp 3 lần kích thước thực tế.

Một điều cần lưu ý là do ống đảo quay phần đuôi ống ra ngoài nên khi chụp phải hết sức thận trọng, tránh mọi tác động có thể có đến phần thấu kính cũng như các chấu tiếp xúc ở phần đuôi này. Nếu bạn có thêm cả ống nối (như bài trước), bạn có thể lắp thêm vào phần đuôi của ống đảo để đóng vai trò là phần bảo vệ cho ống đảo này (như ảnh dưới).


Ống nối.


Do kiểu đảo ống cho phép chụp chủ thể ở khoảng cách rất gần nên khó có thể đảm bảo máy không rung khi chụp cầm tay với phương pháp này. Vì thế tốt nhất bạn nên sử dụng chân máy và dây bấm hoặc điều khiển từ xa để chụp. Phương pháp cũng chỉ phù hợp với chụp trong nhà, bởi ngoài trời chỉ cần một hơi thở hay một cơn gió nhẹ cũng có thể làm rung đối tượng và làm hỏng bức hình cận cảnh của bạn.

Để đàm bảo độ sắc nét, tốt nhất nên khép khẩu độ trên ống chính xuống khoảng f/4 để tránh khẩu độ quá lớn khiến khoảng nét mỏng và ảnh dễ bị mờ.




Ảnh chụp từ phương pháp dùng 2 ống kính.


Khi đã có chân máy, bạn có thể chỉ cần dùng ánh sáng tự nhiên để chiếu đối tượng mà không lo vấn đề tốc độ cửa trập. Nhưng nếu cần, bạn cũng có thể dùng thêm đèn flash với hộp softbox để chiếu sáng thêm đối tượng.

Ảnh 'hoá lỏng' đồ thuỷ tinh độc đáo

Trong khi chụp, tác giả tạt nước vào những khối thuỷ tinh rắn chắc khiến chúng trở nên mềm mại hơn.


Bộ ảnh độc đáo mang tên "Liquid Glass" (tạm dịch là thuỷ tinh lỏng) do nhiếp ảnh gia Jean Bérard, người Mexico thực hiện.



Những mẫu đồ vật được chụp đều làm từ thuỷ tinh trong suốt.



Tác giả không chỉ tạt nước vào đồ vật để "làm mềm" khối thuỷ tinh mà còn dùng ngay những vật thể này đề đựng nước.



Quá trình chụp phải thực hiện rất nhiều lần.







Ngoài "Liquid Glass", tác giả còn thực hiện rất nhiều dự án chụp ảnh với nước khác trên website của mình.

Ảnh: Petapixel

Esc - phím quan trọng nhất trên bàn phím

Có một nút trên keyboard máy tính mà ai cũng có thể bấm không cần nhìn, không sợ nhấn nhầm sang phím khác bởi nó đứng độc lập, "riêng một góc trời", đó là Esc (thoát).


Mỗi bàn phím thông thường chứa hơn 100 nút bấm và tần suất sử dụng phụ thuộc vào nhu cầu của mỗi người. Có những phím được thường xuyên dùng đến mức người ta không nhìn nhưng vẫn xác định được vị trí của chúng như phím cách (Space), phím Enter...

Tuy nhiên, có một phím không được sử dụng nhiều nhưng lại được đánh giá là quan trọng nhất: phím Escape (viết tắt là Esc). Nó là phím duy nhất được phép đứng riêng rẽ với các phím khác ở góc trên cùng bên trái keyboard - vị trí đầu tiên, "trang trọng" nhất xét theo thói quen quan sát từ trái sang phải, từ trên xuống dưới của con người.


Khi đang duyệt web, kéo file từ thư mục này đang thư mục khác hay thực hiện bất cứ điều gì, mọi người có thể bấm Esc để hủy hành động đó. Esc có nghĩa "dừng hành động đang thực hiện và quay trở lại trạng thái trước".

"Esc là mệnh lệnh dành cho máy tính: 'Này, nghe đây, hãy dừng việc đang làm. Tôi cần kiểm soát lại'. Nói cách khác, nó nhắc nhở máy móc rằng chúng đang có một ông chủ là con người", Jack Dennerlein, chuyên gia nghiên cứu về việc con người tương tác với máy tính tại trường sức khỏe cộng đồng của Harvard, chia sẻ trên báo The New York Times. Dennerlein cho biết chính phím Esc đã góp phần thúc đẩy cuộc cách mạng máy tính vào thập niên 70 và 80 của thế kỷ trước. Hoặc như trong phim 2001: A Space Odyssey năm 1968, Esc có thể dừng cả hệ thống nổi loạn Hal trong tích tắc (các chuyên gia điện ảnh đã bình chọn cảnh máy tính Hal phát điên trong phim này là cảnh quan trọng nhất trong lịch sử phim khoa học viễn tưởng).

Esc ra đời năm 1960 khi kỹ sư Bob Bemer cố giải quyết vấn đề "tháp Babel": máy tính từ những nhà sản xuất khác nhau phải giao tiếp với nhiều loại code (mã) khác nhau. Ông phát minh phím Esc như một cách để các lập trình viên chuyển đổi nhanh chóng từ loại code này sang loại code khác. Sau đó, khi mã máy tính được chuẩn hóa (nhờ công lớn của chính Bemer), Esc đóng vai trò như một nút làm gián đoạn một hoạt động đang diễn ra trên máy.

Vì sao phím có tên Escape? Berner có thể đã dùng từ khác là Interrupt (gián đoạn) nhưng sau đó ông chọn từ Esc, phản ánh việc ai cũng có lúc cần được "giải thoát" khỏi một rắc rối nào đó. Từ "Escape" cũng thể hiện tính cách hay lo xa của Berner, như từ những năm 70 của thế kỷ trước, ông đã đưa ra cảnh báo về sự cố Y2K, rằng thảm họa máy tính sẽ xảy ra vào năm 2000 khi máy tính diễn giải con số 00 là năm 1900.

Ngày nay, máy tính đã hoạt động đáng tin cậy hơn và ít người cần đến phím giúp họ thoát khỏi tình trạng bất ổn nào đó. Nhưng Bob Frankston, chuyên gia lập trình, nhấn mạnh:. "Việc có một nút mang ý nghĩa 'giải thoát tôi khỏi sự cố này' bao giờ cũng cần thiết trên máy tính và cả trong cuộc sống".

Những cải tiến quan trọng trên ôtô

Áp lực cạnh tranh luôn đẩy các hãng xe phải cải tiến không ngừng để tạo ra những sản phẩm an toàn, tiết kiệm và hấp dẫn hơn.

Dưới đây là 5 cái tiến lớn nhất trong ngành công nghiệp ôtô do 4wheelsnews bình chọn.

Xe tự hành

Vẫn chưa có mặt trên thị trường nhưng xe tự hành luôn là chủ đề nóng hổi của giới sản xuất xe hơi trong vài năm trở lại đây. Mục tiêu mà nhà tiên phong Google đang hướng tới là giảm tai nạn, hạn chế ùn tắc do sơ suất của con người. Mới đây hãng tìm kiếm lớn nhất thế giới đã đạt được bước tiến quan trọng khi tiểu bang California, Mỹ thông qua dự thảo cho phép xe tự hành.

Hệ thống chống va chạm

Chức năng phát hiện chướng ngại vật, phanh xe tự động dần phổ biến. EyeSight của Subaru sẽ có mặt trên 2 mẫu Outback và Legacy trong năm tới. Hệ thống này sẽ tự phanh khi xe đi dưới 30 km/h và phát hiện có đối tượng lạ trên lộ trình di chuyển.

Một số hệ thống an toàn trên xe Volvo.

Camera lùi

Quá nhiều thứ cản trở tài xế khi quan sát phía sau lúc lùi xe. Hông chạm bờ tường, đuôi đụng cột điều là điều khó tránh khỏi đặc biệt với tài non hoặc những người lái xe tải, xe SUV. Bời thế dù camera lùi vẫn phải là trang bị tiêu chuẩn phổ biến, nhưng với công dụng thiết thực rất nhiều chủ xe đã tự bổ sung thiết bị hữu ích này.

Hệ thống giải trí tích hợp tính năng điện thoại thông minh

Smartphone đang mê hoặc hàng triệu người trên thế giới bởi nó có cả tính năng của điện thoại và máy tính. Không đáng ngạc nhiên khi các nhà sản xuất ôtô ứng dụng công nghệ ngày trên xe. Giờ đây những chức năng trước kia chỉ có trên smartphone thì này đã nằm trong bảng điều khiển của xe BMW, Ford và Toyota.

Xe tiết kiệm nhiên liệu

Cơn sốt xăng dầu tạo ra xe điện và hybrid vài thập kỷ trước. Nhiên liệu rắn trở thành trọng tâm của rất nhiều mô hình. Các hãng xe lớn bắt đầu chuyển tập trung nhiều hơn đến bản chất của việc tiết kiệm nhiên liệu. Các mẫu xe sử dụng nhiên liệu linh hoạt ngày càng phổ biến.

DBS M05479
Quang Cao