Custom Search



Nơi bạn đến là nơi tôi bắt đầu, nơi tôi qua sẽ là nơi bạn đến...

Friday, October 19, 2012

Luật bóng chuyền

Cách chơi

Có một vạch song song và cách lưới 3m trên phần sân của mỗi đội, được xem là "vạch tấn công". Vạch "3m" (hoặc 10 foot) này chia phần sân mỗi đội thành "hàng trước" và "hàng sau" (cũng có thể gọi là sân trước và sân sau). Lần lượt ta có 3 khu vực: được đánh số như dưới đây, bắt đầu từ khu "1", là vị trí của người giao bóng.

Sau khi giành được quyền giao bóng (còn được gọi là siding out), các thành viên của đội phải di chuyển theo chiều kim đồng hồ, với người chơi lúc trước ở vị trí "2" di chuyển tới vị trí "1" và lần lượt như vậy, người chơi ở vị trí "1" di chuyển tới vị trí "6".

Sân được bao quanh bởi một diện tích gọi là vùng tự do, rộng ít nhất là 3m và là nơi người chơi có thể vào và đánh bóng sau khi phát bóng. Mọi vạch thể hiện đường biên của sân và vùng tấn công được vẽ hoặc sơn trong phạm vi kích thước của sân. Nếu bóng chạm vào vạch thì được xem như là ở trong. Có một cọc nhỏ đặt tại nơi trực giao của lưới và đường biên và được xem là đường biên đứng. Bóng chỉ thực sự qua lưới nếu vượt được qua giữa hai cọc này (hay đường kéo dài vuông góc của nó tới trần nhà) mà không chạm vào chúng.



Có 2 đội chơi, mỗi đội gồm sáu người. Để bắt đầu trận đấu, đội giành quyền giao bóng được quyết định bằng cách tung đồng xu. Người chơi ở đội giao bóng (người giao bóng) tung quả bóng lên và cố gắng đánh bóng sao cho nó vượt qua lưới và chạm đất trong phần sân của đối phương. Đội bên kia phải phối hợp với nhau sao cho đưa bóng ngược trở lại qua lưới với nhiều nhất là 3 lần chạm bóng (không kể một lần chắn bóng). Những lần chạm bóng đó thường là “bump” (tâng bóng) hay “pass” (bắt bước 1) để khống chế những đường bay của bóng và chuyền cho người kiến tạo đợt tấn công “setter” (chuyền 2); bước tiếp theo (thường là những quả chuyền bóng bằng cổ tay đẩy bóng bằng ngón tay) người kiến tạo đợt tấn công chuyền bóng cho người thực hiện đợt tấn công “attacker” để người này đập bóng; và cuối cùng là người thực hiện đợt tấn công, người mà “spike” (đập bóng) (nhảy cao lên không trung, giơ một tay cao trên đầu và đập bóng để bóng bay nhanh và mạnh xuống mặt đất phần sân đối phương) đánh trả bóng qua lưới. Đội khống chế bóng mà đang thực hiện đợt tấn công như đã miêu tả ở trên được gọi là ở trạng thái “offense” (tấn công).

Đội đang ở trạng thái “defense” (phòng thủ) cố gắng ngăn chặn đối phương đánh bóng trực diện xuống phần sân của mình: người chơi đứng trên lưới nhảy lên và đưa tay lên cao hết mức có thể (nếu được, có thể đưa tay qua phần sân bên kia) để “block” (chắn banh) quả banh đối phương. Nếu ban xuống gần đến mặt đất, vượt qua hàng chắn, những người còn lại của đội phòng thủ có thể cố gắng chặn bóng không cho chạm mặt đất bằng cách “dig” (đào) (thường là dùng tay thuận để chuyền hoặc lái một cách khó khăn trái banh). Sau khi đào thành công, đội chuyển sang thế tấn công.

Trò chơi tiếp tục như trên, đỡ và đánh bóng trở lại bên kia, đến khi bóng chạm đất hoặc người chơi phạm lỗi. Lỗi thường gặp nhất là không thể đưa được bóng qua phần sân đối phương sau 3 lần chạm bóng, hay làm bóng chạm mặt đất bên ngoài phần sân thi đấu. Quả bóng được tính “in” (trong sân) nếu bất kì phần nào của trái bóng chạm đất từ vạch biên và vạch cuối sân trở vào, và một cú đập mạnh có thể làm biến dạng quả bóng đến nỗi khi chạm đất tưởng như nó ra ngoài thì thực sự nó lại trong sân. Người chơi có thể khống chế bóng từ ngoài sân nếu bóng bay ra ngoài phần sân thi đấu.

Các lỗi thường gặp khác là người chơi chạm bóng liên tục 2 lần (trừ 1 lần chắn bóng), người chơi “catching” (cầm bóng), chạm lưới trước khi lượt banh kết thúc, hay đưa bất kì bộ phận cơ thể nào qua dưới lưới sang phần sân đối phương. Có rất nhiều lỗi được định nghĩa trong luật chơi, hầu hết là các lỗi hiếm gặp. Những lỗi này thường là hàng sau hay libero đập banh hay chắn banh (người chơi ở hàng sau có thể tham gia tấn công nếu họ nhảy đập banh từ sau vạch 3 mét), người chơi không ở đúng vị trí khi trái bóng được giao, tấn công cú giao bóng trực diện hoặc trên lưới, sử dụng người chơi khác để chơi bóng, đạp vạch biên cuối sân khi giao bóng, thời gian giao bóng quá 8 giây hay giao bóng trước khi trọng tài cho phép,[11] hay chơi bóng khi bóng còn đang ở phần sân đối phương.

Tính điểm

Khi bóng chạm đất bên trong phần sân quy định hay có người phạm lỗi, đội không phạm lỗi được tính 1 điểm, dù họ giao banh hay không. Nếu bóng chạm vạch, trái bóng đó được tính trong sân. Đội mà giành được được điểm sẽ giao banh ở lượt tiếp theo. Nếu đội ghi điểm không giao trái banh trước đó, thì các thành viên trong đội phải quay vòng vị trí theo chiều kim đồng hồ. Trò chơi tiếp tục, với đội nào đạt 25 điểm trước (và hơn đối phương tối thiểu 2 điểm) thắng set đấu đó. Trận đấu theo thể thức đánh 5 ăn 3 và nếu phải đánh đến set thứ 5 thì đội chiến thắng set chỉ cần đạt 15 điểm trước (vẫn phải cách đối phương 2 điểm) sẽ là đội thắng trận. (Cách tính điểm khác với từng giải đấu và cấp độ; giải ở các trường cấp 3 thường chỉ đánh 3 set ăn 2; giải NCAA) vẫn đánh đến 25 điểm trong cả 5 set ở mùa giải 2008.).

Trước 1999, điểm số có thể được ghi chỉ khi đội ghi điểm là đội giao bóng và mỗi set chỉ đánh đến 15 điểm. FIVB thay đổi bộ luật vào năm 1999 (với việc thay đổi bắt buộc vào năm 2000) sang sử dụng bộ luật hiện tại (thường được biết dưới tên “rally point system” (hệ thống tính điểm theo lượt đánh), chính thức làm cho mỗi trận đấu có thể tính toán được thời gian cùng với dễ dự đoán và thân thiện với việc phát sóng trên truyền hình.

Libero

Năm 1998, vị trí libero được giới thiệu rộng rãi trên toàn thế giới.[13] Libero là vị trí có kĩ năng phòng thủ đặc biệt: libero phải mặc đồ tương phản khác hẳn với các vị trí còn lại trên sân và không được phép chắn bóng hay tấn công khi bóng nằm hoàn toàn trên mép lưới. Khi lượt đấu chưa bắt đầu, libero được quyền thay người cho bất kì vị trí nào ở hàng sau của đội, mà không cần thông báo với trọng tài, Việc thay người này không được tính vào giới hạn số lần thay người trong một set của mỗi đội, mặc dù libero có thể chỉ thay thế cho 1 người duy nhất của đội.

Libero có thể được chơi như ở vị trí chuyền 2 với một giới hạn nhất định. Nếu libero chuyền bóng cao hơn tay thì phải đứng sau vạch 3 mét (không được phép đạp lên vạch); ngoài ra, trái bóng không được phép dùng để tấn công trước vạch 3 mét. Chuyền bóng dưới tay có thể được thực hiện ở bất kì vị trí nào trên sân. Libero thông thường là người giỏi kĩ năng phòng thủ nhất trong đội. Ngoài ra, còn có một bảng theo dõi các libero của trọng tài để kiểm soát libero nào thực hiện thay người. Có thể chỉ có duy nhất 1 libero trong 1 set (game), nhưng cũng có thể có nhiều libero khác nhau trong mỗi set đấu mới (game mới).

Thêm nữa, libero thường không được phép giao banh, theo bộ luật quốc tế, trừ giải NCAA của nữ, đến khi bộ luật sửa đổi năm 2004 cho phép libero được phát bóng, nhưng chỉ trong trường hợp quay vòng đặc biệt. Điều này chỉ chấp thuận đối với 1 người duy nhất mà libero thế chỗ, không phải tất cả những ai mà libero có thể thế chỗ). Bộ luật thay đổi đã cho phép các trường cấp 3 và cấp 2 chơi ngay sau đó.

Kỹ thuật tấn công duy nhất của Libero khi thi đấu trong nhà có lẽ là tâng bóng dội trần, lợi dụng trọng trường làm một quả bóng vài trăm gam tăng thành vài kg khi dội từ trần nhà thẳng xuống phần sân đối phương, gây khó khăn trong việc đỡ bóng. Tuy nhiên đây là một kỹ năng không dễ. Libero được quyền ra vào sân tự do mà không cần thông báo với trọng tài với mục đích là để cho các chủ công vào nghỉ.
Những thay đổi trong bộ luật hiện tại

Những sửa đổi khác được ban hành năm 2000 bao gồm cho phép phát bóng được chạm lưới, miễn là bóng leo lưới và qua được phần sân bên kia. Cũng như mở rộng phạm vi được phát bóng ra mọi nơi trong phạm vi sân trên lí thuyết. Những sửa đổi khác được thực hiện để giảm nhẹ các lỗi ôm bóng hay chạm bóng 2 lần liên tiếp, như cho phép chạm banh nhiều lần đối với 1 người chơi (“double-hits”).

Vào năm 2008, NCAA đã thay đổi một chút trong việc tính điểm chiến thắng ở 4 set đầu tiên từ 30 xuống 25 đối với nữ (đối với nam vẫn là 30). Nếu như phải đánh set quyết định (set thứ 5), điểm số tối thiểu yêu cầu là 15. Thêm vào đó, thuật ngữ “game” được dùng để thay thế cho “set”.

Những thay đổi trong luật đã được công bố bởi FIVB trong những năm gần đây, và họ phát hành bộ luật cập nhật và năm 2009.
Post a Comment