Custom Search



Nơi bạn đến là nơi tôi bắt đầu, nơi tôi qua sẽ là nơi bạn đến...

Friday, July 27, 2012

Thông tin quân sự VN tổng hợp

Việt Nam mua 2 'sát thủ tàu ngầm' Gepard 3.9 được đặt tên lần lượt là Đinh Tiên Hoàng và Lý Thái Tổ. Tàu có lượng giãn nước 2.100 tấn, được trang bị một hệ thống tên lửa chống hạm Uran-E, một ụ pháo 76,2 mm và 2 ụ pháo 30 mm. Trên boong tàu có bãi đỗ cho các trực thăng như Ка-28 và Ка-31.


Việt Nam sẽ là khách hàng mua vũ khí Nga lớn thứ ba ngân sách quốc phòng Việt Nam tài khóa 2012 sẽ là 70.000 tỷ đồng (2,27 tỷ USD). Như vậy, chi phí quốc phòng sẽ tăng 35% so với năm nay.


 Chủ quyền Hoàng Sa được ghi ngay tại điều 1 Luật Biển. Với 495/496 đại biểu QH bỏ phiếu tán thành, Quốc hội đã thông qua Luật Biển Việt Nam với việc xác định chủ quyền các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa…được ghi ngay trong điều 1.


Chính sách biển và Hải quân Việt Nam: Hà Nội chủ trương xây dựng một hạm đội ven bờ hiện đại và có khả năng chiến đấu cao. Đối tác chính của Việt Nam trong lĩnh vực này là Nga và ở mức độ thấp hơn là Ấn Độ.


Việt Nam sản xuất súng bộ binh và mua tên lửa phòng không Israel: Công nghiệp quốc phòng Israel đang đặt Việt Nam trong tầm ngắm. Các công ty châu Âu cũng đã khám phá ra tiềm năng của Việt Nam, còn các công ty quốc phòng Mỹ sẽ sớm muốn có được chỗ đứng trên thị trường Việt Nam


Việt Nam mua thêm Bastion-P và phát triển tên lửa hành trình: Nga đang đàm phán bán cho Việt Nam tiểu đoàn Bastion thứ ba và dự kiến trong năm 2012, Nga và Việt Nam bắt đầu phát triển một tên lửa hành trình mới.


Ấn Độ giúp hiện đại hóa Không quân và Hải quân Việt Nam: Việt Nam đang đề nghị Ấn Độ trợ giúp về quân sự, trong đó tập trung chủ yếu là lĩnh vực Hải quân.


  Sưu tầm: từ nhiều nguồi tin nước ngoài

Su30 của Không Quân Việt Nam

Su30 của Không Quân Việt Nam đấy các bạn ạh, Đảm bảo " Vùng trời bình yên" cho chúng ta . Su-30 có thể mang theo 8 tấn vũ khí các loại, gồm bom điều khiển có độ chính xác cao, tên lửa đối không hay đối biển có độ chính xác cao...Máy bay có tốc độ tối đa gấp 2 lần tốc độ âm thanh (hơn 2.100 km/giờ), trần bay thực tế 18,5 km và tầm bay 3.900 km. Thật kinh khủng. I love VN




Bạn hãy yên giấc ngủ vì luôn có họ trên bầu trời Việt Nam nhé.

Download phim bom tấn năm 2012

Tổng hợp nhiều bộ phim hay đang được công chiếu trên toàn thế giới































Còn nhiều nữa post ko hết, xem hình là đủ hấp dẫn rồi

Download file torrent:
http://www.mediafire.com/?ce513f12kyskbin
 Về giải nén và mở ra load dữ liệu file về và xem thôi. HD cực chuẩn xem đã âm thanh sống động như thật
 Bann nào chưa cài Torrent thì xem tại đây

 Chúc thành công!

Torrent là gì

Giới thiệu Torrent

Thường thì torrent là một file mang phần mở rộng.torrent bạn nhận từ server. File.torrent này chứa thông tin về dữ liệu bạn muốn down (chứ không phải là bản thân dữ liệu đó). Bạn có thể save file.torrent đó trên máy của mình, sau đó mở nó bằng trình BitTorrent để tiến hành việc download. Hoặc, bạn có thể down ngay bằng cách click thẳng vào link trên trang web - cách này sẽ làm bạn mất thêm chút công sức nếu muốn down lại file đó sau này.

Tên gọi chính xác của nó là BitTorrent nhưng thông thường mọi người vẫn gọi tắt và biết đến nó với cái tên Torrent.

BitTorrent là một mạng chia sẻ được sáng lập bởi Bram Cohen, có khả năng đặc biệt có ích cho những người cần chia sẻ các file có dụng lượng lớn qua mạng. Nếu bạn có 1 file dung lượng 1GB và 300 người cần, sẽ cần rất nhiều thời gian để chia sẻ 300GB dữ liệu. Nhưng nếu bạn chia file thành các mảnh nhỏ gửi cho mọi người và họ lại chia sẻ các mảnh đó cho người khác cho đến khi ai ai cũng có file hoàn chỉnh thì sẽ nhanh hơn rất nhiều. Các trang web lớn có thể sử dụng BitTorrent để cập nhật cho các phần mềm của họ, bằng cách này họ sẽ giảm được chi phí trả cho băng thông. Tốc độ của BitTorrent rất đáng kinh ngạc, chỉ mất vài giờ để truyền tải các file cực kỳ lớn. Một vài trang web đã ra đời dựa theo công nghệ này phân phát các nội dung có bản quyền. Ngay lập tức, các tổ chức như MPAA đã đổ lỗi cho công nghệ này, điều đó hoàn toàn sai, thực tế lỗi là ở các cá nhân sử dụng công nghệ cho mục đích trái phép. Dù thế nào đi nữa, BitTorrent không phải sinh ra để phát tán tài nguyên bất hợp pháp, nó là một phát minh của Bram để giúp cho việc truyền tải trở nên nhanh hơn trong thế giới mạng. Nó được sử dụng trên các trang web trên khắp thể giới và Bram tự hào về điều này.

BitTorrent là một mạng lưới P2P (peer to peer = ngang hàng, tức là nhiều người cùng kết nối trực tiếp với nhau để chia sẻ file). Torrent chuyên được dùng để trao đổi những dữ liệu như Movie, Games, Software, Anime,... và một số File có dung lượng lớn hoặc cực lớn.

Những trang Bit Torrent tốt nhất

MiniNova.org (Đây là 1 trang Torrent miễn phí, MiniNova chưa phải là 1 cơ sở dữ liệu lớn. Nhưng nó có giao diện đáng tin cậy và sạch sẽ với việc truy cập và tìm kiếm nhanh. Với thời gian cơ sở dữ liệu và số thành viên của nó sẽ tăng lên.)

Isohunt.com (Cũng là 1 trang Torrent miễn phí, Isohunt.com đánh bại sự đe dọa của một đạo luật của MPAA. Chủ của trang này là 1 người tự do thực sự, và đang tăng dần những biện hộ thuyết phục chống lại MPAA. Đọc chi tiết tại trang chủ của Isohunt. Đây là 1 trang Torrent nổi tiếng, và những người dùng mạng ngang hàng(P2P) đang cổ vũ khuyến khích cho những hoạt động và thành công tiếp theo của nó.)

Torrentspy.com (Đây là 1 trang Torrent miễn phí, Torrentspy cũng là 1 trang nổi tiếng với kích cỡ tổng thể, tốc độ, và thân thiện với người dùng.)

Torrentreactor.to (Torrentreactor làm nên 1 cuộc trở về từ một dịch vụ hosting bất hợp tác và hijacking. Gần đây họ đã di chuyển tới một cấu hình máy chủ khác và một tên miền nước Tonga ngoài Mỹ. Đọc chi tiết trên trang chủ.Torrentreactor hiện tại là 1 website miễn phí.)

Bi-Torrent.com (còn được biết đến với cái tên "VIP Torrents", Bi-Torrent.com là 1 trang Torrent miễn phí với 1 giao diện Spartan và định dạng tìm kiếm nhanh chóng.)

Special mention: btefnet.net (cũng là 1 trang Torrent miễn phí, btefnet.net chuyên về các file Torrent truyền hình. Với sự vắng mặt gần đây của tv-swarm.com, btefnet.net là 1 trang tìm kiếm Ttorrent tốt nhất hiện nay.)

Phần mềm BitTorrent


BitTorrent là phần mềm nguồn mở, do đó các nhà phát triển phần mềm có thể tạo ra nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng Torrent, Việc tạo ra các file Torrent để chia sẻ, upload, download…sẽ trở nên đơn giản hơn hi có sự giúp đỡ của phần mềm này

Download về chạy thôi nào
Link Download 1 (cập nhật 6/11/2012)
Link Download 2

 Cài đặt: Các bạn download về cài đặt như các chương trình khác nhưng tới phần chọn cài đặt thì bỏ chọn 3 cái như trong hình dưới để giảm tải nhẹ máy mà ko ảnh hưởng gì đến phần mềm
 Chúc vui vẻ!!!

Tuesday, July 24, 2012

Ảo thuật vui - video

 Hay thì share nhé

11 sự thật thú vị về thư điện tử

-Từ những năm 90 của thế kỉ trước, e-mail đã làm lu mờ thói quen sử dụng thư tay và fax, vốn không tiện lợi bằng, tốc độ chậm hơn nhiều và thường xuyên bị thất lạc hoặc xảy ra lỗi.
-Cùng GenK khám phá những sự thật thú vị có thể bạn chưa biết về e-mail như: Ai là người đã gửi bức e-mail đầu tiên trên thế giới? Nội dung của bức e-mail đó như thế nào? Hay thông tin về những mật khẩu e-mail phổ biến nhất? Còn thư spam thì sao?...


Dù có thích hay không, bạn vẫn phải công nhận một điều rằng thư điện tử (e-mail) là một bước tiến vượt bậc, thay đổi cách chúng ta giao tiếp trong thời đại ngày nay.


Từ những năm 90 của thế kỉ trước, e-mail đã làm lu mờ thói quen sử dụng thư tay và fax, vốn không tiện lợi bằng, tốc độ chậm hơn nhiều và thường xuyên bị thất lạc hoặc xảy ra lỗi. Mặc dù ngày nay, khi blog hay các mạng xã hội đang dần bành trướng trên Internet, tích hợp nhiều điểm tiện lợi đối với phương thức truyền tin cá nhân thì e-mail vẫn giữ một vai trò quan trọng nhất định mà không gì có thể thay thế được.

Có thể bạn dùng e-mail mỗi ngày, nhưng bạn có biết rõ mọi thông tin về công cụ này? Bạn có biết ai là người đã gửi bức e-mail đầu tiên trên thế giới? Nội dung của bức e-mail đó như thế nào? Hay thông tin về những mật khẩu e-mail phổ biến nhất? Còn thư spam thì sao?...


1. Bức e-mail đầu tiên trên thế giới.

Ray Tomlinson được coi như là người đầu tiên gửi thông tin bằng e-mail qua mạng Internet vào năm 1971. Tomlinson không được giao nhiệm vụ cụ thể là phát triển thư điện tử, nhưng ông có may mắn được làm việc trên một số thiết bị hữu ích trong dự án mạng ARPANET (tiền thân của mạng Internet ngày nay) của MIT (Học viện khoa học và kỹ thuật Massachusetts). Ông đã dành thời gian để làm việc với e-mail chủ yếu bởi vì ông thấy ý tưởng của công cụ này khá thú vị.

Được gửi giữa hai máy tính đặt sát nhau, bức e-mail đầu tiên là một bước tiến nhỏ của loài người trong lĩnh vực truyền tin điện tử, nhưng rất quan trọng. Tomlinson cho biết đã nhiều năm trôi qua và hiện giờ, ông không thể nhớ chính xác được nội dung của bức e-mail đầu tiên đó. Ông đoán nội dung đó có thể là chuỗi kí tự đơn giản “testing123” hoặc “QWERTYUIOP” – những kí tự trên dòng đầu tiên của một bàn phím ngày nay.

2. Nguồn gốc từ “Spam”?


Theo nhiều nguồn tin, thuật ngữ “thư rác” (spam) trong e-mail ngày nay được cho là đến từ một bộ phim hài của nhóm Monty Python, được phát sóng trên kênh BBC vào năm 1969. Trong bộ phim hài trên có tình tiết là thực khách bị một nhà hàng “oanh tạc” bằng món spam (thịt jambond đóng hộp) kèm với tất cả các món trong thực đơn, tạo thành một thực đơn “toàn spam”: bacon and spam, egg and spam, ham and spam, spam and spam…Cứ mỗi lần tiếp viên đọc xong thì lại có một nhóm người Vikings hát đệm những câu toàn chữ “spam”. Bài hát cũng kết bằng một từ spam được bè kéo dài đến hết…

Có lẽ vì nó quá nổi tiếng nên người ta đã dùng Spam là từ để chỉ những thứ không cần thiết và không được mong đợi nhưng lại được cung cấp nhiều thái quá. Và sau đó, khi e-mail ra đời và phát triển, Spam là một lựa chọn rất phù hợp để sử dụng với nghĩa như hiện nay- những bức thư điện tử gây phiền toái cho người dùng do được gửi đến quá nhiều. “Spam” được đưa vào từ điển tiếng Anh Oxford vào năm 1998.

Trích đoạn được cho là nguồn gốc của từ "spam".

Bức thư spam đầu tiên trên thế giới được tạo ra vào ngày 3/5/1978 để quảng cáo cho một hệ thống máy tính mới. Nó được gửi đến 600 người dùng dịch vụ ARPANET mà địa chỉ của họ được nhập vào máy tính từ giấy. Điều đáng buồn cười ở đây là người gửi mail không biết rõ về hoạt động của chương trình (bị giới hạn số lượng địa chỉ gửi) mà cứ chăm chú gõ nên 600 địa chỉ này đã bị tràn từ ô TO: tới ô CC: và cuối cùng tràn cả vào nội dung chính của thư.

3. Mật khẩu e-mail phổ biến nhất?



Có vẻ như “123456” là mật khẩu được lựa chọn nhiều nhất mọi thời đại được người dùng sử dụng để bảo vệ hòm mail của họ trên Internet. Mật khẩu này cũng đứng đầu trong bản danh sách mật khẩu hotmail bị rò rỉ trên Internet vào năm 2009. Đây liệu có phải là mật khẩu cho hòm mail của bạn?

4. Mã morse của kí tự @ là gì?


Bất chấp một thực tế rằng lượng người dùng e-mail để giao tiếp trên Internet liên tục tăng không ngừng vào cuối thế kỉ 20, mã morse vẫn không hề tồn tại kí hiểu biểu thị cho kí tự @ trong địa chỉ thư điện tử. Điều này chỉ chấm dứt vào năm 2004.



Theo đó, @ được biểu thị bởi chuỗi mã morse của hai kí tự A và C. Đây là lần bổ sung kí hiệu chính thức đầu tiên vào bảng mã morse kể từ thời kì Chiến tranh thế giới thứ nhất.

5. Viết từ e-mail thế nào là đúng?

E-mail, e-mail, e-mail, e-mail, E-mail hay E-Mail? Từ nào viết đúng chính tả?

Vấn đề này tùy thuộc vào quy định của từng cơ quan, tổ chức. Trong khi nhiều từ điển và sách hướng dẫn cho rằng viết “E-mail” là đúng thì sách hướng dẫn nghiệp vụ của hãng thông tấn AP lại khẳng định chắc chắn rằng do e-mail là từ viết tắt của electronic mail, nên viết e-mail là hoàn toàn chính xác.

6. Kí hiệu @ được gọi như thế nào?

-Tại Anh: “at”, “commercial at”, “at sign”,”at the rate”, “at symbol”, “at mark”, “cyclips”, “ampersat” , “asperand”…



Những ngôn ngữ khác có cách mô tả biểu tượng này khá hài hước khi thường liên quan tới động vật.

- Tại Đức: spider monkey – “nhện – khỉ”

- Tại Hà Lan: apestaart – “đuôi khỉ”.

- Tại Thụy Điển: snabel-a – chữ cái “a” với thân của một con voi.

- Tại Italia: chiocciolina – “ốc nhỏ”.

- Tại Trung Quốc: “con chuột nhỏ”

Ngộ nghĩnh hơn, trong một số ngôn ngữ khác, @ còn gắn với “đuôi chuột”, “mèo đang ngủ”, “vịt nhỏ”, “chó” và “sâu nhỏ” (?!).

7. Bức e-mail đầu tiên được gửi đến từ khoảng không vũ trụ khi nào?

Vào năm 1991, phi hành đoàn STS-43 Atlantic đã sử dụng phần mềm AppleLink của hãng Apple trên một thiết bị di động có tên Macintosh để truyền về Trái Đất đoạn thông tin sau đây:

“Xin chào Trái Đất! Lời chào từ phi hành đoàn STS-43. Đây là tin nhắn đầu tiên được gửi bởi phần mềm AppleLink ngoài khoảng không vũ trụ. Chúng tôi đã có một thời gian tuyệt vời và chúng tôi ước gì bạn cũng được ở đây. Chúng tôi sẽ sớm trở về”.

8. E-mail của… nhân vật hoạt hình nào đã từng bị tin tặc tấn công?




Đây là một ông bố được rất nhiều người yêu thích – ông bố Homer Simpson trong loạt phim hoạt hình đình đám một thời The Simpson. Địa chỉ e-mail của ông là chunkylover53@aol.com, đã được tiết lộ phần phim thứ 14 có tên “Dad Who Knew Too Little”. E-mail này được lập ra bởi Matt Selman, một trong những tác giả của loạt phim này – nhằm mục đích nhận và trả lời thư của người hâm mộ dưới cái tên ông bố Homer. Tuy nhiên, điều này đã khiến ông nhận được hàng trăm cho tới hàng ngàn thư mỗi ngày, không có thời gian trả lời xuể và cuối cùng, hòm mail này đã bị hacker tấn công.

9. E-mail lừa đảo lừa được nhiều người nhất

Năm 1999, một bức e-mail lừa đảo, với nội dung cho biết Bill Gates (người giàu nhất thế giới thời điểm bấy giờ), dự tính sẽ chia sẻ toàn bộ gia tài của mình cho người dùng Internet. Bức e-mail này ngay lập tức được lan truyền với tốc độ “tên lửa” đến hàng triệu người sử dụng Internet.


10, E-mail và người nổi tiếng.

- Bill Gate bắt đầu sử dụng e-mail từ ngày 16/7/1982, khi trụ sở của hãng phần mềm Microsoft cài đặt một mạng cục bộ để kết nối giữa các máy tính của các phòng ban trong công ty. Nếu bạn gửi e-mail cho ông, bạn thậm chí còn có thể nhận được phản hồi.

- Liệu Đức Giáo Hoàng có sử dụng e-mail? Có. Đức Giáo Hoàng John Paul II là Đức Giáo Hoàng đầu tiên sử dụng e-mail và ông thậm chí đã từng gửi một bức e-mail xin lỗi tới người dân Châu Đại Dương.

- Trong toàn bộ nhiệm kì Tổng thống Mỹ của mình (1993-2001), ngài Bill Clinton chỉ gửi duy nhất …2 bức e-mail. Một bức được gửi tới John Glenn khi ông ở trên tàu con thoi ngoài khoảng không vũ trụ, và bức còn lại để ông….thử xem hệ thống e-mail hoạt động như thế nào.

-Năm 2008, Barack Obama (khi đó còn là ứng cử viên tổng thống) đã thu thập được 13 triệu địa chỉ e-mail của người dùng tại Mỹ. Obama đã sử dụng các địa chỉ e-mail thu thập được, cũng như các dịch vụ mạng xã hội nổi tiếng thời bấy giờ như MySpace hay Youtube để ….spam và kêu gọi sự ủng hộ của người dân Mỹ. Và kết quả, như chúng ta đã thấy!

11. Liệu có tồn tại chứng… nghiện e-mail?

Trước khi xảy ra một thực tế là người dùng Facebook check tài khoản của họ 5 phút mỗi lần, trước khi người dùng đổ xô đi mua điện thoại di động chỉ để có thể vào Twitter mọi lúc mọi nơi, đã có rất nhiều người nghiện sử dụng e-mail. Đây cũng được coi là một chứng bệnh tương tự như nghiện Facebook, nghiện Twitter…và ngững người nghiện e-mail được gọi với cái tên emailaholics.

Mẹo nhỏ để có một ly trà đá tuyệt hảo

Theo như nghiên cứu trên tạp chí EatingWell tháng 8/2011, uống trà thường xuyên không những làm giảm nguy cơ mắc bệnh Alzheimer và tiểu đường mà còn đem lại hàm răng và bộ nướu khỏe mạnh. Nguyên nhân do trà có chứa chất chống oxy hóa: flavonoids và có tác dụng mạnh nhất khi trà mới pha.

Việc tự pha trà đem lại nhiều ích lợi. Khi pha trà ở nhà thay vì sử dụng trà uống đóng chai và trà pha chế sẵn, bạn sẽ tiết kiệm được tiền. Thêm vào đó bạn có thể kiểm soát được lượng calo vào cơ thể. Dưới đây là 5 mẹo nhỏ để có một ly trà tuyệt hảo:




Mẹo thứ nhất: sử dụng chè tươi

Nên sử dụng chè tươi bởi vì các hợp chất có lợi trong lá chè sẽ mất dần theo thời gian. Còn không thì hãy chọn chè khô thay vì chè túi lọc. Nếu chỉ có sự lựa chọn duy nhất là chè túi lọc, hãy chọn loại có túi lọc càng lớn càng tốt bởi vì khi lá chè càng nở ra thì tách trà càng có hương vị tốt hơn.

Mẹo thứ 2: sử dụng nước suối hoặc nước lọc

Nước khoáng thiên nhiên có chứa nhiều khoáng chất có thể làm mất đi hương vị của trà. Trong khi sử dụng nước cất sẽ làm nhạt vị trà.

Mẹo thứ 3: chú ý nhiệt độ nước pha trà

Hãy dùng nước sôi để pha trà đen, trà thảo mộc, trà ô long lá sẫm màu. Còn nếu muốn pha trà xanh, bạch trà và trà ô long sáng màu, bạn nên sử sụng nước ấm (76-82 độ C) để giữ được hương vị của trà.

Mẹo thứ 4: chỉ pha đủ

Trà sẽ ngon hơn nếu được pha đủ lượng. Lượng trà thích hợp là 1.5 đến 2 muỗng cà phê cho mỗi ly tràđối với trà xanh, và 1 muỗng cà phê đối với trà xay nhỏ ví dụ như các loại trà đen.

Nếu bạn muốn pha một ly trà đá và không có thời gian đợi trà nguội, hãy pha trà đặc hơn rồi thêm đá vào. Còn không thì đợi trà nguội đi rồi cho vào tủ lạnh.




Mẹo thứ 5: không hãm trà quá lâu

Không nên hãm trà quá lâu vì chất tannin trong trà làm tăng vị chát và mất vị ngon của trà.

Đối với trà đen và trà ô long tối màu, nên hãm trà từ 3-5 phút, trong khi trà xanh, bạch trà và trà ô long sáng màu chỉ cần 2-3 phút. Trà thảo dược ít tannin ít hơn, do đó có thể hãm lâu hơn được.




Dù bạn có pha trà loại nào đi nữa, tốt nhất là nên uống trà ngay khi mới pha để tận dụng tác dụng có lợi của chất chống oxi hóa trong nước trà. Nếu bạn muốn ủ lạnh trà trong tủ lạnh thì hãy thêm một ít nước chanh hoặc cam. Đây là lời khuyến cáo của tiến sĩ Jeffrey Blumberg, giám đốc Phòng thí nghiệm Nghiên cứu Chất chống oxy hóa tại Trung tâm Nghiên cứu Dinh dưỡng người cao tuổi tại Đại học Tufts, Boston, Hoa Kì. Axit citric và vitamin C trong chanh và cam giúp bảo tồn các hợp chất flavonoid có lợi trong trà.




Tham khảo: Eatingwell
Theo Genk.VN

Bí quyết ''cưa trai'' thành công của một gái ế

Chuyện “cọc đi tìm trâu" thời này vốn không hiếm, và tôi cũng muốn cảm giác thử làm cọc để tìm ra trâu nào giống tốt, cao to vạm vỡ. Tôi đã vài lần lấy hết can đảm ra thử nhưng đều thất bại. Cho đến khi đứa bạn thân mách nhỏ bí quyết thì tôi mới vỡ òa...

Bí quyết ''cưa trai'' thành công của một gái ế

Quỳnh - bạn thân tôi, không phải hot girl sắc nước hương trời, cô chỉ được dáng vóc thanh mảnh và gương mặt nhìn duyên. Nếu chấm điểm chắc cũng chỉ đạt 6/10 thôi. "Nhưng tớ biết cách biến 6 thành 9!", đó là tuyên bố của Quỳnh. Ban đầu tôi ko tin lắm, nhưng nhìn vào danh sách các gã trai chết dưới chân cô nàng mà hầu hết họ đều "chuẩn khỏi chỉnh" thì tôi nghĩ: "Mình cũng nên cắp sách qua nhà nó học!".

Nhờ vậy, chiến dịch cưa anh chàng đồng nghiệp và cũng là... sếp tôi đã được chuẩn bị chu đáo.

Đầu tiên, tôi phải chăm chút bản thân hơn nữa. Quỳnh dòm dòm ngó ngó vóc dáng tôi bảo: “Dáng mày đẹp nhưng mặc đồ thì quê quá!”. Chả là tôi suốt ngày nhốt mình trong những bộ trang phục công sở kín như bưng. Nhưng giờ chiến dịch bùng lên, tôi phải sắm sửa thêm vài cái váy ôm, áo sơ mi kiểu và đặc biệt phải... thiếu vải hơn.

Kiểu tóc, giày dép cũng cần thay đổi. Lâu lâu phải thử nghiệm một kiểu tóc mới nhưng vẫn phải rất mượt mà và thoang thoảng mùi thơm (vì theo Quỳnh, mọi anh chàng đều mê hương thơm dịu nhẹ). Tất cả đều rất hợp mốt và lịch sự nhưng phải thu hút ánh mắt của các chàng trai chung phòng, dĩ nhiên trong đó có sếp.

Cùng với vụ quần áo, giày dép, tôi cũng phải dẹp bỏ cái điệp khúc: "Sao tớ chưa có bồ? Nhìn người ta đi có đôi có cặp mà ghen tị quá". Quỳnh dặn rất kỹ, loại điệp khúc "rất cần bồ" hoặc tỏ ra “ta đây không cần chàng nào vẫn sống tốt" đều phải bỏ triệt để. Lý do là chả anh nào muốn tiếp cận một cô nàng chưa cưa đã biết sẽ đổ hoặc một cô không đẹp (như tôi) mà cứ nghĩ mình trên trời.

Thế phải thế nào? Tốt nhất là... chả tỏ ra gì cả, thay vào đó hãy cứ vui vẻ, hòa đồng với mọi người, đi chơi với các chiến hữu nhiều nhiều, tâm trạng vui tươi, cười nhiều nhất có thể. Nhưng phải luôn ý tứ: tức là đi chơi hòa đồng nhưng không phải kiểu anh nào rủ cũng đi, đi cả đám thì đến 10h30 - 11h phải xin rút ngay, để tạo thiện cảm kiểu "em đây ngoan ngoãn". Tuyệt đối không bar club đến sáng cùng mấy gã đàn ông thì hỏng bét. Ngoài ra, nếu tụ tập tại nhà đồng nghiệp thì lăn vào bếp phụ, có sếp hay ko sếp vẫn cứ duy trì, vì tiếng lành đồn xa, sếp trước sau gì cũng biết.

Rồi thi thoảng phải vô tình xách vào chỗ làm vài món ngon ngon mà “mình làm, mời mọi người nếm thử xem sao". Tất nhiên, các món này phải đảm bảo đảm “ngon trở lên". Nên nhớ, quan trọng nhất là từ lần thứ 2-3 trở đi, phải vô tình các món ấy là khoái khẩu của sếp.

Ngoài ra, Quỳnh cũng nhắc nhở tôi trong lúc chiến dịch đang thực hiện, không được nói bóng gió với sếp “Em A, cô B hình như đang tia anh đấy", "Cô C xinh quá anh hen" hay nói xấu các đối thủ khác. Tốt nhất cứ dành thời gian đó đế tân trang bản thân và nói chuyện thoải mái với mọi người, kể cả sếp, coi việc sếp có nhiều vệ tinh cũng không liên quan đến mình.

Kết quả, sau 3 tháng mặc những bộ đồ khác, tôn vóc dáng của mình lên, tôi tự thấy mình đẹp ra, kiểu tóc mới cũng làm tôi xinh hơn hẳn, cộng thêm khoản tụ tập với đồng nghiệp mỗi cuối tuần thật xôm, thật vui... những điều đó đã thực sự khiến tôi thu hút được nhiều nam giới chút ý hơn.

Khỏi phải nói, các anh khi biết tôi đảm đang thì đổ đứ đừ, mà có anh nào biết tôi đang âm thầm cầm cưa sếp từ xa đâu, nên không ít anh đã xin làm tài xế đưa rước tôi đấy!

Về phần sếp, qua những lần đi chơi chung với cả phòng và thời gian làm việc chung, sếp chú ý đến tôi nhiều hơn, bởi “mày bỗng xinh ra, hòa đồng vui vẻ mà vẫn đảm đang, ý tứ, hơn nữa, mày đâu có sỗ sang tấn công ông ấy", Quỳnh phân tích.

Bản tính đàn ông là thích chinh phục, nên khi đi chinh phục đàn ông, bạn phải là một... em cáo biết tất, hiểu tất nhưng cần tỏ ra là một chú thỏ dễ thương, thu hút. Nên nhớ, phụ nữ "cầm cưa" không phải là nhảy xổ vào đối phương mà "lia lấy lia để", việc của bạn là làm sao bật đèn xanh để điều khiển anh chàng đó phải "cầm cưa" lên tấn công mình!

Bạn cứ thử áp dụng xem, vì ngày 5/7 vừa rồi là sếp với tôi vừa tròn 2 tháng yêu nhau đấy!

vylephuong...@yahoo.com

Hâm nóng "hiệp 2"

Với nhiều cặp vợ chồng, những “hiệp phụ” luôn được xem là giải pháp không thể thiếu trong đời sống gối chăn. Vậy nên có tần suất hiệp phụ như thế nào, thời gian nghỉ giữa hai hiệp ra sao? Và đâu là bí quyết hâm nóng hiệp phụ?

Khoảng nghỉ lý tưởng

Đa số đàn ông, những người trẻ và đang trong độ sung mãn có thể “giương nòng” lần thứ hai ngay sau khi kết thúc lần quan hệ đầu tiên. Với họ, trung bình chỉ cần khoảng 15 phút là “đạn” lại được nạp đầy và sẵn sàng cho hiệp mới.

Tuy nhiên, với những đàn ông nhiều tuổi hoặc sức khỏe kém hơn, thời gian nghỉ giữa hiệp này có thể lâu hơn, 1, 2 tiếng hoặc thậm chí có người chỉ tiếp tục hiệp phụ sau một giấc ngủ ngắn. Khác với Adam, Eva không cần nghỉ giữa hai hiệp. Họ có thể đạt được hai hay nhiều cực khoái trong một thời gian ngắn.


Hiệp 2 giúp đôi bạn nếm trải cảm xúc thăng hoa 

Có nên quá hai hiệp mỗi đêm?

Trong mỗi ml tinh dịch có khoảng 150mg kẽm. Mỗi lần lâm trận, Adam phải tiết ra 2 - 6ml tinh dịch, tương đương với sự tiêu hao 300 - 900mg kẽm. Trong khi đó, lượng kẽm trong cơ thể một người đàn ông nặng 60kg chỉ có 1,5gr. Vậy nên nếu bị “rút” đi liên tục, chất này sẽ bị hao hụt nghiêm trọng và với những người thể lực kém, cơ thể lâu hồi phục có thể đẩy họ rơi vào những thảm họa về sức khỏe như lá lách và tuyến ức giảm trọng lượng, tuyến ức teo đi, giảm số lượng tế bào Lympho nhỏ ở máu ngoại vi và giảm khả năng miễn dịch, dễ khiến đàn ông mắc bệnh.

Vì lẽ đó nên hãy để ý đến cảm giác của chàng vào sáng hôm sau, nếu thấy người mệt mỏi, uể oải, thậm chí kiệt sức, vợ chồng bạn nên giảm số lần quan hệ trong đêm. Còn nếu chàng vẫn khỏe khoắn, sảng khoải, đôi bạn có thể tận hưởng "chuyện ấy" theo cách của riêng mình.

Hiệp 2 là giải pháp cứu cánh

Để đạt cực khoái, trung bình đàn ông chỉ mất 10 phút, trong khi đó phụ nữ lại cần từ 15 - 20 phút. Vì lẽ đó nên nhiều cặp vợ chồng thường xuyên rơi vào cảnh lệch pha phiền phức: chồng đã khoan khoái “lên đỉnh” và rút về thoái trào như một quy luật tất yếu thì vợ mới bắt đầu cảm giác hưng phấn. Hiệp 2 vì thế là giải pháp cứu cánh cho những người phụ nữ có chồng... phi nước đại trên giường.

Tình trạng lâu xuất quân của chàng ở hiệp 2 sẽ giúp nàng dễ theo được hết các cung bậc cảm xúc của mình. Còn với những người đàn ông, nhất là những người xa vợ lâu ngày hoặc có nhu cầu tình dục cao, hiệp 2 mới thực sự giúp họ thỏa mãn.

Thỏa hiệp với hiệp 2

Để giữ sức cho hiệp 2, đàn ông vẫn truyền tai nhau bí quyết: tấn công nhanh ở hiệp 1 và luôn phải để dành 1 ít tinh binh để “làm vốn” cho hiệp hai. Đây thực ra chỉ là một trong rất nhiều các chiêu mà các nhà tình dục học khuyên dùng. Tắm chung, massage, xem phim dành cho vợ chồng, cùng nhau ăn nhẹ, trò chuyện, thậm chí một giấc ngủ ngắn… sẽ giúp đôi bạn tận hưởng sự sảng khoái, lấy sức lại sau cuộc vui tuyệt đỉnh.




Nguồn Yahoo.com

Những con đường kì lạ trên thế giới

1. Đường hầm Tower, Nhật Bản


2. Đường hầm Log, California, Mỹ


3. Đường hầm Tình yêu ở Ukraine


4. Đường hầm chữ "L" ở Illinois, Mỹ

5. Đường hầm Guoliang, Trung Quốc 

Monday, July 23, 2012

GA là gì?

Đơn giản nó là từ viết tắc của từ Google Adsense, vậy Adsense là gì?


AdSense là một dịch vụ quảng cáo của Google. Người viết web hay thậm chí là cả blog có thể đăng ký vào chương trình này để đăng các quảng cáo dưới dạng văn bản, hình ảnh, và mới đây là cả video trên trang web của mình. Những mẩu quảng cáo này được điều phối bởi Google và tạo ra lợi nhuận trên nguyên tắc tính tiền cho mỗi cú nhấp chuột và tính tiền cho mỗi ấn tượng. Google hiện nay đang thử nghiệm beta cho dịch vụ dựa trên tính tiền cho mỗi hành động.

Google sử dụng công nghệ tìm kiếm của mình để đưa ra các đường dẫn quảng cáo tương thích với nội dung, nơi ở của người truy cập, ngôn ngữ cũng như nhiều yếu tố khác của trang web sử dụng AdSense. Những người muốn đăng quảng cáo thông qua hệ thống AdSense thì có thể đăng ký thông qua AdWords. AdSense đã trở thành dịch vụ quảng cáo trực tuyến phổ biến nhất nhờ vào "hòa hợp" của nội dung quảng cáo với nội dung của trang web, khác hẳn cách quảng cáo dùng banner vẫn phổ biến trước đây. Ngoài ra vị trí đặt các links quảng cáo của AdSense cũng không gây khó chịu đối với người truy cập trang như với các banners.

AdSense sử dụng mã JavaScript để đưa nội dung quảng cáo vào trang web thành viên. Nếu đoạn mã này được chèn vào một trang web mà Mediabot chưa khảo sát được thì, để cho có vẻ tử tế với người đăng ký làm thành viên của AdSense, nó sẽ tạm thời đưa ra một đoạn quảng cáo vì mục đích từ thiện (Public Service Announcement (PSA) hay Community Service Announcement (CSA)). ((Chú ý rằng Mediabot là một bộ khảo sát độc lập với Googlebot chỉ quản lý danh mục tìm kiếm của Google.)


Rất nhiều trang web sử dụng AdSense để kiếm tiền từ nội dung của nó và cũng nhiều chủ trang web nỗ lực để tăng thu nhập từ AdSense. Họ làm điều này bằng 3 cách:

Sử dụng nhiều loại kỹ thuật tạo ra lưu lượng thông tin chuyển đến và đi từ trang web của họ bằng (nhưng không chỉ có) quảng cáo trên mạng! Viết ra những bài hay cũng là một cách làm hiệu quả.

Xây dựng những nội dung có giá trị trên trang của họ nhằm tạo sức hút đối với các quảng cáo AdSense mang lại nhiều tiền khi được click lên đó.


Sử dụng nhiều hình thức khác nhau để khuyến khích người truy cập nhấp lên đường dẫn quảng cáo. Cũng nên lưu ý rằng Google cấm người dùng AdSense sử dụng các câu tương tự như "Click on my AdSense ads" (Hãy nhấp lên quảng cáo của tôi) để tăng số lần nhấn trên tài khoản AdSense. Những câu được chấp nhận là "Sponsored Links" (Đường dẫn được tài trợ) hay "Advertisement" (Quảng cáo).


Nguồn chi trả cho người dùng AdSense đến từ chương trình AdWords. Còn cơ chế tính tiền đăng quảng cáo đối với người dùng AdWords khá phức tạp và được dựa trên một kiểu đấu giá kín mà người đặt giá cao nhất phải chi ra số tiền bằng số tiền đặt giá cao thứ hai (đấu giá Vickrey).

P/s Một điều đáng buồn GA không hỗ trợ ngôn ngữ tiếng việt và trước đây mình cũng chơi nhưng GG áp dụng luật rất khắc khe

Talking Tom Cat 2

Nói chuyện với Tom 2 cực vui

Vào link sau nhé: http://media.y8.com/system/contents/41532/original/2_Talking-Tom-Cat-2.swf

Windows 8 phát hành từ 26/10/2012

Cùng với Windows 8, hệ điều hành Windows RT và có thể là cả máy tính bảng Surface cũng sẽ được tung ra.
Máy tính cài hệ điều hành Windows 8 sẽ được bán cùng ngày 26/10, người phát ngôn Brandon LeBlanc của Microsoft cho biết trong một bài đăng blog của công ty.

Trước khi ông LeBlanc đăng tin trên không lâu, chủ tịch Stephen Sinofsky của bộ phận Windows và Windows Live đã công bố ngày Windows 8 ra mắt tại MGX (Microsoft's Global eXchange). MGX là cuộc họp nội bộ hàng năm của các lãnh đạo công ty, nhân viên bán hàng và người quản lý sản phẩm. MGX không có khách mời từ bên ngoài.


Tuần trước, Microsoft cho biết sẽ ra mắt Windows 8 vào cuối tháng 10/2012 và bản cho các nhà sản xuất phần cứng (RTM) sẽ được chuyển cho các đối tác vào đầu tháng 8/2012. RTM xác nhận hệ điều hành đã sẵn sàng để Microsoft cung cấp cho các nhà sản xuất thiết bị gốc (OEM) - như Hewlett-Packard, Dell và Lenovo - để họ có thể bắt đầu cài đặt trên các máy tính mới.

Vào ngày 26/10, chương trình nâng cấp lên Windows 8 với 40 USD cũng khởi động, cho phép những người dùng đang chạy Windows XP, Vista hoặc Windows 7 nâng cấp lên Windows 8 với giá 40 USD. Microsoft sẽ cung cấp Windows 8 Pro - phiên bản cao cấp hơn trong 2 phiên bản bán lẻ - cho những đối tượng này.

Microsoft cũng gắn liền sự ra mắt của hệ điều hành Windows RT, máy tính bảng Surface của họ với sự ra mắt của Windows 8. Tuy nhiên, máy tính bảng Surface vẫn chưa chắc 100% vì Microsoft nói rằng, thiết bị sẽ được bán trong khoảng thời gian phát hành của Windows 8.

Vẫn còn một số thông tin chưa được làm rõ, đáng chú ý nhất là:


Giá của máy tính bảng Surface cài Windows RT.
Liệu các nhà sản xuất OEM khác cũng sẽ tung ra máy tính bảng cùng một lúc hay không?
Giá phiên bản System Builder của Windows 8 (phiên bản không nâng cấp từ các hệ điều hành cũ). Phiên bản System Builder dành cho những người tự ráp máy tính hoặc cho một số chủ sở hữu Mac muốn chạy hệ điều hành Windows 8 trên máy của họ.

Bí mật của Google 2

 Một vài app đặc biệt của GG lại được tiết lộ cho anh em khám rồi phá nhá, xem trên video
Các lệnh được dùng
  1. Gravity
  2. Zerg Rush
  3. askew

[MV] DAY BY DAY - T-ARA nghe và cảm nhận nhé!

 Hãy thư giản đi nhé...

DDoS là gì?

Tấn công từ chối dịch vụ phân tán (DDoS - Distributed Denial Of Service) là kiểu tấn công làm cho hệ thống máy tính hay hệ thống mạng quá tải, không thể cung cấp dịch vụ hoặc phải dừng hoạt động. Trong các cuộc tấn công DDoS, máy chủ dịch vụ sẽ bị "ngập" bởi hàng loạt các lệnh truy cập từ lượng kết nối khổng lồ. Khi số lệnh truy cập quá lớn, máy chủ sẽ quá tải và không còn khả năng xử lý các yêu cầu. Hậu quả là người dùng không thể truy cập vào các dịch vụ trên các trang web bị tấn công DDoS.

DDOS - Distributed Denial Of Service.


• 1998 Chương trình Trinoo Distributed Denial of Service (DDoS) được viết bởi Phifli.

• Tháng 5 – 1999 Trang chủ của FBI đã ngừng họat động vì cuộc tấn công bằng (DDOS)

• Tháng 6 – 1999 Mạng Trinoo đã được cài đặt và kiểm tra trên hơn 2000 hệ thống.

DDOS – Distributed Denial Of Service ?

• Cuối tháng 8 đầu tháng 9 năm 1999, Tribal Flood Network đầu tiiên ra đời, Chương trình được Mixter Phát triển.

• Cuối tháng 9 năm 1999, Công cụ Stacheldraht đã bắt đầu xuất hiện trên những hệ thống của Châu âu và Hoa kỳ.

• Ngày 21 tháng 10 năm 1999 David Dittrich thuộc trường đại học Washington đã làm những phân tích về công cụ tấn công từ chối dịch vụ

• Ngày 21 tháng 12 năm 1999 Mixter phát hành Tribe Flood Network 2000 ( TFN2K ).

• 10 : 30 / 7 – 2 -2000 Yahoo! ( Một trung tâm nổi tiếng ) đã bị tấn công từ chối dịch vụ và ngưng trệ hoạt động trong vòng 3 giờ đồng hồ. Web site Mail Yahoo và GeoCities đã bị tấn công từ 50 địa chỉ IP khác nhau với nhửng yêu cầu chuyễn vận lên đến 1 gigabit /s.

DDOS - Distributed Denial Of Service ?

• 8 -2 nhiều Web site lớn như Buy.com, Amazon.com, eBay, Datek, MSN, và CNN.com bị tấn công từ chối dịch vụ.

• Lúc 7 giờ tối ngày 9-2/2000 Website Excite.com là cái đích của một vụ tấn công từ chối dịch vụ, dữ liệu được luân chuyễn tới tấp trong vòng 1 giờ cho đến khi kết thúc, và gói dữ liệu đó đã hư hỏng nặng.

• Qua đó ta có thể thấy rõ những vụ tấn công từ chối dịch vụ (Denial Of Services Attack ) và những cuộc tấn công về việc gửi nhửng gói dữ liệu tới máy chủ (Flood Data Of Services Attack) tới tấp là những mối lo sợ cho nhiều mạng máy tính lớn và nhỏ hiện nay,

• Khi một mạng máy tính bị Hacker tấn công nó sẽ chiếm một lượng lớn tài nguyên trên server như dung lượng ổ cứng, bộ nhớ, CPU, băng thông …. Lượng tài nguyên này tùy thuộc vào khả năng huy động tấn công của mỗi Hacker. Khi đó Server sẽ không thể đáp ứng hết những yêu cầu từ những client của những người sử dụng và từ đó server có thể sẽ nhanh chóng bị ngừng hoạt động, crash hoặc reboot.

• Tấn công từ chối dịch vụ có rất nhiều dạng như Ping of Death, Teardrop, Aland Attack, Winnuke, Smurf Attack, UDP/ICMP Flooding, TCP/SYN Flooding, Attack DNS.

Ping Of Death.

Một số máy tính sẽ bị ngưng họat động, Reboot hoặc bị crash khi bị nhận những gói dữ liệu ping có kích thước lớn.

• Ví dụ như : ping địachỉ -n 1000
trong đó : số 1000 là số lần gửi gói dữ liệu.

• TCP/SYN Flooding:

Bước 1: Khách hàng gửi một TCP SYN packet đến cổng dịch vụ của máy chủ

Khách hàng -> SYN Packet -> Máy chủ

Bước 2 : Máy chủ sẽ phản hồi lại khách hàng bằng 1 SYN/ACK Packet và chờ nhận một 1 ACK packet từ khách hàng

Máy chủ -> SYN/ACK Packet -> Khách hàng

Bước 3: Khách hàng phản hồi lại Máy chủ bằng một ACK Packet và việc kết nối hòan tất Khách hàng và máy chủ thực hiện công việc trao đổi dữ liệu với nhau.

Khách hàng -> ACK Packet -> Máy chủ

• Trong trường hợp Hacker thực hiện việc SYN Flooding bằng cách gửi tới tấp, hàng loạt TCP SYN packet đến cổng dịch vụ của máy chủ sẽ làm máy chủ bị quá tải và không còn khả năng đáp ứng được nữa.

• UDP/ICMP Flooding:
Hacker thực hiện bằng cách gửi 1 số lượng lớn các gói tin UDP/ICMP có kích thước lớn đến hệ thống mạng, khi hệ thống mạng chịu phải sự tấn công này sẽ bị qua tải và chiếm hết băng thông đường truyền đi ra bên ngòai của mạng này, vì thế nó gây ra nhửng ảnh hưởng rất lớn đến đường truyền cũng như tốc độ của mạng, gây nên những khó khăn cho khách hàng khi truy cập từ bên ngoài vào mạng này.

• Những điều kiện đủ để có những cuộc tấn công DoS Có hiệu quả:
Để có được những cuộc tấn công DOS có hiệu quả thông thường một Hacker phải lựa chọn cho mình những đường truyền có dung lượng lớn cũng như tốc độ máy được dùng làm công cụ tấn công. Nếu không hội tụ được những điều kiện trên thì cuộc tấn công sẽ không mang lại mấy khả quan.

• Nhưng với những tiện ích như Trinoo, TFN2K, Stacheldraht… người tấn công không phải chỉ dùng 1 nơi để tấn công mà sử dụng nhiều mạng lưới khác nhau để thực hiện việc tấn công đồng lọat. Các máy được dùng để tấn công thường là các máy có kết nối Internet bị người tấn công xâm nhập.

• Qua đó chúng tôi đã tham khảo và biết một số cách nhưng hầu hết không chống được một cách triệt để.

1. Khi bạn phát hiện máy chủ mình bị tấn công hãy nhanh chóng truy tìm địa chỉ IP đó và cấm không cho gửi dữ liệu đến máy chủ.

2. Dùng tính năng lọc dữ liệu của router/firewall để loại bỏ các packet không mong muốn, giảm lượng lưu thông trên mạng và tải của máy chủ.

3. Sử dụng các tính năng cho phép đặt rate limit trên router/firewall để hạn chế số lượng packet vào hệ thống.

4. Nếu bị tấn công do lỗi của phần mềm hay thiết bị thì nhanh chóng cập nhật các bản sửa lỗi cho hệ thống đó hoặc thay thế.

5. Dùng một số cơ chế, công cụ, phần mềm để chống lại TCP SYN Flooding.

6. Tắt các dịch vụ khác nếu có trên máy chủ để giảm tải và có thể đáp ứng tốt hơn. Nếu được có thể nâng cấp các thiết bị phần cứng để nâng cao khả năng đáp ứng của hệ thống hay sử dụng thêm các máy chủ cùng tính năng khác để phân chia tải.

7. Tạm thời chuyển máy chủ sang một địa chỉ khác.

Flooding Data Attack ?

• Hoàn toàn khác với DDos về khả năng tấn công cũng như sự huy động tấn công rất dễ dàng để làm tràn ngập dữ liệu (Flood data attack !) được phát triển ở rất nhiều dạng nó dựa vào những lỗi của hầu hết các mã nguồn mở của ASP, PHP, JSP, CGI …..

• Với DDOS như chúng ta đã biết khi một số Hacker muốn mở những cuộc tấn công đều phải hội tụ những điều kiện, là phải dùng những máy chủ có đường truyền cao và thường thì phải @hắc vào server đó mới có thể huy động làm công cụ tấn công được, ngược lại với Flood data attack việc huy động quá dễ, nó chia ra làm 2 dạng tấn công như sau:

• Dạng 1: Được chạy trên trên môi trường Windonw, Unix, Linux …

• Dạng 2: Được đính kèm trên các Website và nhận lệnh tấn công từ một địa chỉ nào đó trên Mạng toàn cầu.

• Dạng 1: Với kích thước từ 500 byte đến 1Kb các Hacker dễ dàng đính kèm vào một Website nào đó có nhiều người hiện đang có mặt truy cập trên Website đó. Với đọan mã trên ta có thể thấy Hacker đã đặt kích thước tập tin Flooddata.swf ở chế độ Chiều rộng (width) là bằng 0 và chiều cao (height) cũng bằng 0 như thế tập tin này sẽ không thể hiển thị được trên trên trang Web đó

Khi người sử dụng vào Website này lập tức sẽ kích họat chương trình Flood Data Attack ! của Hacker tại địa chỉ là http://noitancong.com/filedata.swf và Hacker cũng dễ dàng điều khiển chương trình bằng 1 file nguồn ở 1 Website nào đó của Hacker trên mạng mà Hacker đó đặt ra trong chương trình Flooding data Attack.

Hacker có thể kiểm soát được số người hiện đang kích hoạt chương trình Flood data của mình trên Website đó và khi nào Hacker cảm thấy số lượng người đang kích hoạt chương trình đã đủ để việc tấn công một Website nào đó trên mạng thành công thì công việc đó có thể được bắt đầu.

Ví dụ như hacker vào một địa chỉ như http://www.vbuleetin.com để thực hiện công việc tấn công trang này hacker cần phải tìm những nơi có sự trao đổi dữ liệu cho nhau như Register, Search, Login, Sendmail ….. Sau khi đã thu thập được những thành phần trên Hacker bắt đầu thực hiện lấy những đầu vào(input) và gán nhửng giá trị đầu vào trên lên nơi điều khiển của chương trình Flood data attack!.

Ví dụ phần trên sẽ được gán với biến như sau :

Url=http://www.vbuleetin.com/register.php&username=user + random(999999999)&password = flood&passwordconfim=password&email=random(1000000 00)+@vbulleetin.com

Trong đó Url là giá trị của Website bị tấn công, Username với giá trị là một user nào đó do hacker đặt ra và cộng với biến ngẫu nhiên ở sau mỗi user mà hacker đặt ra là khác nhau. Một khi Website này bị tấn công, toàn bộ họat động của Server chứa Website đó sẽ bị hậu quả rất ngiêm trọng tùy theo số lượng người kích họat vào chương trình Flood data attack! Của hacker đó, Lúc này những phần bị ảnh hưởng sẽ là MailServer, MySQL, PHP, Apache, FTP….

• Đối với MySQL : Khi bị Flood data attack! Những yêu cầu sẽ được gửi liên tục đến Server và được chuyển qua MySQL xử lý với số lượng lớn và nối tiếp nhau cho đến khi quá tải chương trình MySQL sẽ hòan toàn bị vô tác dụng song song với việc ảnh hưởng đến MySQL là việc ảnh hưởng đến MailServer.

Với giá trị là random(100000000)+@vbuleetin.com thì khi thực thi nó sẽ gửi từ ‘1@vbuleetin.com’ cho đến ‘100000000@vbuleetin.com’ tất nhiên nhửng email này sẽ không có thực đối với trang chủ của Website ‘http://www. vbuleetin.com.

• Đối với sẽ nhửng địa chỉ email này MailServer đưa vào danh sách "Msgs Failed" nhưng với giá trị là @vbulletin.com thì hầu hết một nhà cung cấp "domain" và "hosting" sẽ chuyển về một số email mặc định như là postmaster, admin, administrator, supervisor, hostmaster, webmaster.

Những Hacker có thể lợi dụng những Form mail trong việc trao đổi thông tin giữa khách hàng với chủ cung cấp dịch vụ để thực hiện những cuộc tấn công, những cuốc tấn công này thường rất nguy hiễm vì có thể trong 1 giây Hacker thực hiện từ 100 lần đến hàng nghìn lần với những yêu cầu SendEmail từ 1 user trên server đó đến MailServer.

• Dạng 2: Được chạy dưới dạng file.exe với dạng thức này thì khả năng tấn công vẫn giống như cách tấn công nằm trên website nhưng khả năng tấn công được nâng thêm nhiều dạng như Ping, Flood Ftp, Flood Smtp… tùy vào khả năng phát triển của Hacker.

Cũng giống như chương trình Flood data attack! Được gắn trên website dạng .exe này cũng được điều khiển từ 1 Website. Thường thì nơi điều khiển được đặt chung 1 nơi để tiện cho việc điều khiển.

Với những phương thức tấn công như vậy ta cũng có thể thấy được tầm nguy hiểm của nó nếu như được đặt trên một server với số lượng người truy cập đông như Google hoặc 1 Website nổi tiếng nào đó thì sức phá hoại của nó là rất khủng khiếp.

• Với 1 client/1s có thể gửi từ 3 – 8 yêu cầu có thực đến máy chủ thực thi và xử lý thông qua đó nó có thể ảnh hưởng đến Php, Apache, Phpmail, MySQL, FTP …., Tùy theo những mã nguồn của ASP, PHP, JSP, CGI, PL hoặc chung quy là những mã nguồn có liên quan đến công việc xuất và nhập dữ liệu.

Nếu hacker huy động hoặc @hắc được những server hoặc Website nào đó có số lượng người Online khoảng 2000 thì trong 1 giây Server đó sẽ phải thực thi khoảng 6000 yêu cầu từ các client gửi đến Server đó.

Ví dụ : Có User nằm trên server X nào đó user đó có cài đặt mã nguồn mở như Forum IPB (Invision Power Boards) khi hacker sử dụng mục đăng ký làm nơi tấn công Flood data thì trong vòng một giây như phần trên đã nêu sẽ có khoãng 6000 nickname được khởi tạo đi kèm theo đó là 6000 yêu cầu đã được mã nguồn mử thiết lập khi đăng ký và sẽ kèm theo việc gửi email đến các địa chỉ đã đăng ký.

• Như vậy đi kèm với 6000 nickname trên, MailServer sẽ phải gửi đi 6000 yêu cầu trong vòng 1/s việc này nếu như bị kéo dài từ 5 – 10 phút thì Server đó hầu như sẽ không còn họat động được.

Bandwith lúc này có thể tăng 5 – 10 MB/s cộng thêm data khi được chuyển đến MySQL lúc này có thể đạt tới 5 -7 MB/s nữa khi đó toàn bộ các phần mềm như Apache, MailServer, PHP, MySQL, FTP đều bị ngưng họat động. Lúc đó server có thể sẽ bị reboot.

Vì Hacker sử dụng phương tiện tấn công Online trên Website và dựa vào lượng khách truy cập thông tin ở nhiều Website nên phương pháp này hầu như rất khó chống, mỗi ngày Hacker có thể dùng hàng ngàn địa chỉ IP trên khắp thế giới để thực hiện việc tấn công như thế ta có thể thấy nó đơn giản so với DDos rất nhiều nhưng sự nguy hiểm có lẽ hơn hẳn DDos. Vì Flooding Data Attack tấn công theo dạng địa chỉ ‘http://victim.com/data.php&bien1&bien2&bien3’ theo cổng GET hoặc POST vì vậy, cho dù bất cứ lý do gì khi tấn công cũng phải đi qua hướng này.

Do lỗi được xuất hiện ở các mã nguốn ASP hay PHP nên cách tốt nhất là sửa và xem lại những mã nguồn mà người sử dụng muốn đưa lên mạng. Để tránh bị Flood data Attack! Thì cách phòng chống tạm thời vẫn là thêm một chuỗi ngẫu nhiên trên mỗi Form có sự xuất và nhập dữ liệu tuy nhiên những cách trên chưa phải là những cách hòan thiện để chống lại nhửng cuộc tấn công tràn ngập dữ liệu (Flooding Data Attack).

Tổng hợp

Google Analytics - Công cụ phân tích website hiệu quả

Google Analytics - Công cụ phân tích và thống kê website? Bạn muốn biết những khách thăm websitecủa bạn đến từ quốc gia nào? Thời gian duyệt web là bao lâu? Vấn đề thu hút được khách truy cập quan tâm nhất trên website của bạn là gì?... Bạn sẽ có câu trả lời với Google Analytics.

Google Analytics là một dịch vụ của Google giúp bạn thống kê, phân tích website. Google đã mua lại dịch vụ này từ hãng Urchin và cung cấp miễn phí cho người sử dụng. Với những số liệu thống kê phong phú và giá trị, có cả chỉ số về số lượng (lượng truy cập, trang xem,...) lẫn về chất lượng (thời gian,...), đã có nhiều công cụ nhưng theo đánh giá của rất nhiều Webmaster thì thấy đây là một dịch vụ đánh giá web miễn phí tốt nhất, cho kết quả đảm bảo với độ tin cậy cao.

1. Để sử dụng, bạn truy cập Google Analytics, đăng nhập bằng tài khoản Google.

Sau khi đăng nhập, bạn sẽ được chuyển đến trang Analytics Settings. Tại đây để bắt đầu theo dõi, phân tích và thống kê website của bạn, bấm chọn Add website Profile ». Trong trang Create New website Profile, đánh dấu chọn vào dòng Add a Profile for a new domain và điền vào địa chỉ website (blog) cần thống kê vào khung Please provide the URL of the site you would like to track. Sau khi bấm Continue, bạn sẽ được cấp một đoạn mã, hãy copy đoạn mã này và chèn vào website của bạn.
Lưu ý: Với website tĩnh thì các bạn chèn đoạn code này vào file index, còn với website động dạng như joomla, wordpress, vbb, drupal... các bạn chèn đoạn code vào file index.php của template đang sử dụng. cả 2 đều trèn vào trong thẻ
Sau khi chèn vào website, bạn quay lại Google Analytics phần Analytics Settings, tại mục website Profiles sẽ hiển thị danh sách các website mà bạn sẽ theo dõi và thống kê. Tại trường Status sẽ cho bạn biết trạng thái hoạt động của Google Analytics đối với website đó. Nếu hiển thị dòng chữ Receiving Data là quá trình cài đặt thành công và Google Analytics đang nhận các thông tin theo dõi website của bạn.
Bạn có thể sử dụng một tài khoản Google Analytics này để theo dõi nhiều website khác tuỳ thích.

2. Để theo dõi và xem các thống kê của Google Analytics về website của bạn

Sau khi đăng nhập Google Analytics, bạn chọn tên website từ menu xổ xuống ở mục View Reports hoặc bấm chọn View Reports.Trang báo cáo các kết quả theo dõi và thống kê rất đơn giản và trực quan.
Phần trên là Dashboard hiển thị biểu đồ số lượng khách truy cập từng ngày. Ngay bên dưới là mục Site Usage thống kê theo tháng các số liệu: tổng số truy cập (Visits), tổng số trang xem (Pageview), số trang xem trung bình trên một lần truy cập (Pageview/Visit), thời gian trung bình khách truy cập (Avg. Time o­n Site), tỷ lệ phần trăm khách ghé thăm website lần đầu (% New Visits)

Visitors Overview: thống kê các thông số về khách truy cập website (blog): số trang xem, thời gian duyệt website, loại trình duyệt đang sử dụng, loại đường truyền (kết nối Internet) đang sử dụng,... Ngoài ra còn rất nhiều các thông tin khác như: operating systems (hệ điều hành đang sử dụng), screen colors, screen resolutions (độ phân giải màn hình), java support (có để chế độ hỗ trợ Java hay không?), Flash, languages (ngôn ngữ sử dụng),...
Map Overlay: cho bạn biết khách ghé thăm website, website của bạn đến từ các vùng lãnh thổ, đất nước nào (thậm chí thành phố nào).

Traffic Sources Overview: cho bạn biết chính xác con số truy cập website, website của bạn qua những con đường nào: trực tiếp (Direct Traffic), các bộ máy tìm kiếm (Search Engines), từ các website liên quan khác (Referring Sites). Đồng thời, tại đây bạn cũng biết được khi sử dụng các bộ máy tìm kiếm, khách thăm website, website đã tìm kiếm với từ khóa gì để tới được website của bạn.
Content Overview: mục này cho bạn biết số lần truy cập vào từng bài viết trên website của bạn. Bạn sẽ biết bạn bài nào được đọc nhiều nhất, từ đó định hướng đề tài cho website của mình.Visitors
Phần Visitors bao gồm những báo cáo thông tin về khách thăm quan website, với báo cáo Visitors Overview bạn sẽ có những thông tin như biểu đồ lượng khách thăm quan, họ đã tới thăm website của bạn bao nhiêu lần, họ đã xem bao nhiêu trang thông tin, thời gian trung bình họ truy cập website của bạn là bao lâu, bao nhiêu người khách lần đầu tiên ghé thăm website của bạn...Những báo cáo này sẽ cung cấp cho bạn cả những thông tin sâu hơn như khách thăm quan sử dụng trình duyệt nào, kết nối Internet của họ là loại nào, ADSL hay Cable, độ phân giải màn hình bao nhiêu, họ có sử dụng flash hay javascript hay không...Tất cả những số liệu được cung cấp thông qua các báo cáo về Visitors có thể được sử dụng để sắp xếp, thiết kế lại website của bạn sao cho phù hợp nhất đối với người dùng. Để mỗi khi ghé thăm website của bạn, họ sẽ thấy một website được thiết kế rất vừa mắt và dễ sử dụng, tránh những thông báo lỗi do bất tương thích.

Traffic Sources Với báo cáo thuộc phần Traffic Sources, bạn sẽ biết chính xác lượng khách của mình bắt nguồn từ đâu. 3 nguồn quan trọng nhất là Direct Traffic, khách thuộc nguồn này họ vào thẳng website của bạn bằng cách gõ địa chỉ trực tiếp vào trình duyệt.Nguồn quan trọng thứ hai là link từ các website khác, bạn có thể xem chi tiết hơn là link từ website nào, từ trang nào trên website đó, được bao nhiêu người dùng nhấn vào link đó, vào ngày nào, tháng nào... Rất có thể từ đó bạn sẽ có thêm một đối tác nữa trong việc phát triển website của mình. Nguồn quan trọng thứ 3 và theo đánh giá chủ quan của tôi thì đây là nguồn quan trọng nhất, khách ghé thăm site của bạn thông qua các máy tìm kiếm như Google hay Yahoo...Các máy tìm kiếm luôn là những công cụ đắc lực nhất để thu hút khách mới ghé thăm của bạn, nếu bạn biết khai thác nó, trong ví dụ tôi nêu ra, 40% lượng khách ghé thăm website là từ các máy tìm kiếm, và 39% trong số 40% đó là từ các kết quả tìm kiếm Google.Trong trường hợp của bạn thì có thể khác, nhưng dựa vào những con số này, bạn có thể đưa ra những chiến lược đúng đắn nhất để tối ưu nội dung website dành cho các máy tìm kiếm, từ đó thu hút thêm khách thăm quan.

Content: Sau tất cả những báo cáo về vấn đề "đối ngoại" thì phần Content sẽ chủ yếu liên quan tới vấn đề "đối nội". Các báo cáo trong phần này sẽ tập trung vào nội dung thông tin trên website của bạn, phần nào được khách ghé thăm nhiều nhất, phần nào làm ngắt luồng thông tin của khách.Sâu hơn nữa, một số báo cáo thuộc phần này còn cho bạn biết được lượng khách thăm quan website đang quan tâm tới vấn đề gì dựa trên các từ khóa tìm kiếm họ đã sử dụng, sau khi tìm thấy thông tin thì họ đã đọc bao nhiêu trang, bao nhiêu lâu trong số các thông tin tìm được, từ đó bạn đánh giá được mức độ hữu ích của các thông tin này. Một diểm đáng chú ý nữa là nếu một trang thôngtin nào đó trở thành exit page (trang cuối cùng khách xem trước khi rời website - BTV) quá nhiều thì bạn cũng nên xem lại xem trang đó liệu có chứa link tới một nơi khác bổ ích hơn hay không, hay là do nội dung trang đó đề cập tới vấn đề nào gây phản cảm... Rất hữu dụng.

Goals: Đây là phần ít được dùng nhất, nhưng lại là phần quan trọng nhất đối với một số người. ở phần này, bạn sẽ có thể tạo lập một số trang "mục tiêu", và Google Analytics sẽ cho bạn biết bao nhiêu người, làm cách nào, thông qua những trang nào khác... người dùng tới được những trang "mục tiêu" đó. Ví dụ trong trường hợp một site thương mại điện tử, trang mục tiêu sẽ được thiết lập là trang hiển thị hóa đơn sau khi đã mua hàng. Bạn có thể dựa vào báo cáo này để biết được những người mua hàng của bạn quan tâm tới những gì trước khi mua hàng, từ đó tùy biến nội dung những phần thông tin đó để thu hút thêm nhiều khách mua hàng, nếu khách dừng lại ở trang quy định vận chuyển hàng hóa chẳng hạn, thì chắc chắn là bạn có vấn đề với phương thức vận chuyển của mình.Bạn cũng có thể dựa vào những báo cáo ở phần Goals này để tính toán phần trăm khách thăm quan đạt tới được trang mục tiêu trong tổng số người ghé thăm website, từ đó tính toán ra một con số gần đúng tỉ lệ thành công của mỗi khách hàng tiềm năng bạn có được thông qua website.
Muốn xem chi tiết chỉ số thống kê nào, bạn bấm vào view report hoặc view full report để xem. Ngoài ra bạn cũng có thể truy xuất thông qua menu phía bên tay trái của Google Analytics. Google còn cung cấp rất nhiều thông tin hay và thú vị khác (nhưng rất có ý nghĩa), bạn có thể tự tìm hiểu thêm, ví dụ như: tỉ lệ giữa khách thường xuyên quay lại website và số lượng khách mới đến lần đầu, số khách trung thành với website, mức độ thường xuyên, những từ khoá tìm kiếm mà người sử dụng đã dùng để tìm ra website của bạn,...

Việc thông kê và phân tích website rất quan trọng đối với việc làm SEO của các webmaster, nó giúp cho bạn có 1 cái nhìn tổng quan về sự hoạt động cũng như phát triển của website, từ đó giúp bạn xây dựng một kế hoạch làm SEO tốt nhất cho webiste của mình.

Bảng điểm theo quy định ưu tiên của Google


Nhìn vào bảng trên bạn có thể thấy title, link popularity là yếu tố được đánh giá ảnh hưởng lớn nhất với 2 điểm.

Title là tiêu đề trang website, bạn có thể nhìn thấy ở góc trên cùng bên tay trái 1 website bất kỳ và là title là dòng màu xanh đại diện cho website khi bạn tìm kiếm trên Google. >> cách viết title chuẩn theo tiêu chuẩn Google.

Link popularity là số lượng Backlink trỏ lại webpage. Bạn có thể hiểu đơn giản là mức độ nổi tiếng, phổ biến của webpage trên internet (được nhiều người biết đến, được link tới từ nhiều website khác vào). Thuật toán của máy tìm kiếm cho rằng nếu có nhiều trang web có liên kết đến các trang webpage của bạn, nội dung đó phải có chất lượng cao.

Bạn có tể tăng link popularity bằng cách trao đổi hoặc mua text link từ các website trong cùng ngành hoặc có liên quan (tìm bằng cách search từ khóa của bạn trên google, các website trong top 1-20 là những website bạn nên trao đổi).

Domain Name: nếu tên miền là từ khóa bạn sẽ có lợi thế rất lớn. Tên mền có từ khóa chứng tỏ rằng KH đang tìm đúng website họ cần tìm. Ví dụ: nếu KH tìm từ khóa quả táo,

Keyword Prominence: Sự nổi bật của từ khóa.

Máy tìm kiếm rất chú ý đến các nội dung được làm khác biệt đi (chữ to, màu sắc khác, bôi đậm, in nghiêng, nằm trong thẻ H1-H6, đặt hyperlink,...) và đánh giá các nội dung này có liên quan đến từ khóa chính, bởi vì nó được làm khác biệt đi để gây chú ý với người đọc.

Thực sự người đọc chủ yếu đọc lướt nội dung - lướt web để nhanh chóng nắm được nội dung của bài viết hay website thì bạn cần làm nổi bật các từ khóa của bạn lên giúp họ dễ dàng nhất nắm được ý, được nọi dung bạn muốn truyền tải của bạn. Như bạn chú ý trong bài viết này những từ nào cần nhấn mạnh hoặc gây chú ý tôi đều để bold (strong). Các thẻ Heading tag, Bold, Italic cũng là 1 yếu tố giúp từ khóa nổi bật hơn.

Heading tags: tương tự với thẻ trên, thẻ heading xuất hiện mục đích làm nổi bật hơn các từ khóa trong website.

Với mỗi đoạn trong 1 bài viết tạo Heading khách hàng, google sẽ dễ dàng đọc nắm được nội dung chính của bài viết, website. (giống như bạn đọc 1 quyển sách, nếu sách phân rõ từng chương, từng mục lớn, mục nhỏ bạn sẽ thấy rất dễ dàng đoán, hình dung ra được nội dung của sách.)

Cũng như vậy, google coi việc sử dụng heading để đánh đấu các đoạn trong website, đầu tiên giúp khách hàng dễ đọc hơn, các máy tìm kiếm như Google cũng dễ dàng trong việc xác định nội dung webpage.

Proximility Keywords: Mật độ từ, tần suất xuất hiện của từ khóa.

Thuật toán của Google coi những xuất hiện nhiều, xuất hiện với mật độ cao trong 200-300 chữ đầu tiên một webpage sẽ có khả năng là từ khóa chính mô tả nội dung chủ đạo của webpage đó. (loại trừ các từ chết như: và, thì, mà, là, rằng,...). Vì tế mật ộ từ khóa, tần suất xuất hiện của từ khóa trong website nên phải đạt mức 15-35% số lượng chữ trong website.

Folder or filename: Đây là yếu tố liên quan đến URL và phân cấp cấu trúc trong website.

Khi bạn đặt tên 1 folder trong website, bạn nên chú ý đến các từ khóa, việc tích hợp các từ khóa vào sẽ làm Google dễ dàng hơn trong việc xác định nội dung, sắp xếp, lưu trữ Folder hoặc file của bạn.

Ex nếu là hình ảnh về hà nội bạn cần, cho nó nằm trong folder hinh-anh/ha-noi và đặt tên cho ảnh >> anh-phong-canh-ha-noi.jpg ; anh- dep-ha-noi.jpg,... chỉ cần "đọc" tên folder (hinh-anh/ha-noi) là máy tìm kiếm đã "hiểu" được rằng đây là các hình ảnh về hà nội và sẽ sắp xếp các ảnh này trong danh bạ hình ảnh về hà nội.

Meta Description: là thẻ ứng dụng mô tả ngắn gọn nội dung của webpage.

Thẻ này mục đích hỗ trợ người tìm kiếm xác định webpage này có phải là nội dung họ cần tìm kiếm hay không.

Ví dụ khi bạn tìm từ quả táo. Đây là một từ khóa chung chung, google chưa hiểu bạn cần thông tin chính xác là gì >>> nó sẽ đưa ra những thông tin có thể không chính xác (xem trên google bạn sẽ tấy hiện tại là website topdau.com với phim quả táo, tiếp theo là hình ảnh quả táo rồi đến các bài báo viết về công dụng của quả táo). Rõ ràng Google có nhiều đề xuất cho bạn tuy nhiên bạn đang cần tìm về công dụng quả táo hoặc hình ảnh click vào trang topdau.com.

Google coi Meta Description là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến website. Yêu cầu website nên có Description ứng với mỗi webpage và duy nhất.

Alt Tags: là thẻ mô tả hình ảnh. Google là máy nên không thể hiểu được một hình ảnh mô tả về điều gì. Nên cần sử dụng thẻ Alt cho các hình ảnh để mô tả ngắn gọn nội dung của hình ảnh.

Thẻ Alt Tags ra đời ban đầu nhằm hỗ trợ những ngời khiếm thị có thể duyệt website, hiểu nội dung website. Khi họ rê chuột vào 1 hình ảnh trong website, sẽ có phần mềm đọc thẻ này và sẽ mô tả hình ảnh này là hình ảnh gì, giúp người khiếm thị dễ dàng hiểu được nội dung.

Còn các máy tìm kiếm thông tin cũng dựa vào thẻ này để xác định nội dung dung hình ảnh. Với các thiết bị không đọc (điện thoại động), hoặc cấm đọc hình ảnh (trình duyệt chặn image) thì sẽ đoạn alt tags thay thế

Title Attribute: là các thẻ sử dụng để làm rõ, mô tả thêm một thành phần trong website (Thường ứng dụng mô tả các nội dung viết tắt (Ex: <abbr title="Search Engine Optimization">SEO</abbr>); tên riêng, ký hiệu (<p title="công ty ACRO">acro.vn</p>).

Meta keywwords: thẻ này sử dụng để ỗ trợ máy tìm kiếm xác định được từ khóa chính trong website là gì. Tuy nhiên sau này do các seoer, webmaster dpam thẻ keywords quá nhiêu dẫn đến giá trị của thẻ này đã giảm đi rất nhiều. Google và Yahoo hiện tại không còn đánh giá cao giá trị của thẻ Keywords, tuy nhiên bạn vẫn cần đưa ra từ khóa để hỗ trợ máy tìm kiếm tìm chính xác hơn nội dung của webpage

Mật độ từ khóa. Google xác định nội dung website bằng thuật toán và sắp xếp website theo các chủ đề khác nhau, các chủ đề này chính là những từ khóa. Bạn muốn có ột website
Nguồn tin acro.vn

Google Analytics - Công cụ phân tích và thống kê website hiệu quả

Google cafein, speed factor, instant search, instant preview, Google place, … là các thuật ngữ được giới chuyên gia seo đề cập nhiều trong năm 2010. Bước sang năm mới 2011, liệu Google sẽ có những biến đổi gì trong thuật toán để kết quả hiển thị được tốt hơn ? Nào, chúng ta hãy làm một bài dự đoán.

1. Thời đại của các thiết bị di động : chắc chắn các bạn sẽ phải đồng ý với tôi rằng các thiết bị di động đang chiếm lĩnh cuộc sống của các bạn. Hãy bỏ qua cái laptop của bạn mà nói đến cái gần gũi hơn đối với bạn đó chính là chiếc điện thoại di động. Giờ đây với chiếc điện thoại trong tay bạn có thể làm bất cứ đều gì, ở bất cứ đâu. Số người sử dụng điện thoại di động lên đến hàng trăm triệu người. Do đó không có lý do gì Google không tối ưu công cụ tìm kiếm của mình cho các thiết bị này. Vì vậy mà cũng không lạ gì khi trong tài liệu SEO mới nhất mà Google xuất bản cho cộng đồng SEO đã có một phần kiến thức dành cho các thiết bị di động.

2. CTR (click through rate) – hay còn gọi là tỉ lệ click trên số lượt truy cập. Quả thật, ngay hiện nay CTR chưa quá ảnh hưởng đến các kết quả SEO, vì có nhiều trang có số lượng truy cập và số click rất thấp nhưng vẫn có thứ hạng cao. Tuy nhiên, trong năm 2011 CTR có thể sẽ là một trong những yếu tố gây ảnh hưởng mạnh mẽ đến thứ hạng của website.

3. Time on site : Không biết Google có sử dụng yếu tố này trong SEO hay không nhưng với một người làm marketing online thì có được một bảng thống kê xem khách truy cập ở lại website mình trong bao lâu sẽ có thể giúp họ đánh giá được phần nào sự ưa thích của khách hàng đối với website. Thời gian trên site bao nhiêu thì tốt cho SEO ? không ai có thể biết được, nhưng chắc chắn đây sẽ là một nhân tố mà các SEOer nên để ý đến trong năm 2011.

4. Hiệu ứng mạng xã hội : Bạn có nhìn thấy sức mạnh của mạng xã hội tạo ra không ? Nó như một con bão có thể cuốn bay tất cả những định kiến thiển cận. Hiệu ứng của mạng xã hội là vô cùng to lớn và đôi khi bạn không cần quảng cáo trên các công cụ tìm kiếm nhiều người vẫn biết đến bạn.Nếu bạn đã nổi tiếng trên một mạng xã hội nào đó, không lý do gì Google lại bỏ qua sự nổi tiếng của bạn.

5. Pagerank(PR) : đây là yếu tố mà rất nhiều SEOer đang đắn đo suy nghĩ. Trong năm 2010, Pagerank hầu như không cập nhật trong thời gian hơn 6 tháng và bây giờ cũng chưa thấy động tĩnh gì. Chắc chắn năm 2011, Google sẽ bất ngờ lăng xê PR lên một tầm cao hơn, chất lượng hơn và cũng nhiều tai tiếng hơn.

Trên đây chỉ là 5 trong số rất nhiều yếu tố khác có thể sẽ thay đổi và được Google tăng thêm nhiều trọng lượng. Chắc chắn rằng SEO là một quá trình dài hạn, gian khổ nhưng cũng tràn đầy sung sướng khi đạt được thành quả. Hãy tiếp tục suy nghĩ và chiến đấu. Còn theo bạn thì năm 2011 yếu tố nào sẽ là ứng cử viên nặng ký trong thuật toán của Google ?
5 Lý do tại sao bạn cần đến dịch vụ SEO?

Khi bạn bắt đầu thiết kế một website mới, một trong những câu hỏi đầu tiên của là "lượng truy cập website sẽ đạt được mức nào?" Lượng truy cập (traffic) đồng nghĩa với có nhiều khách hàng hơn, bán nhiều hàng hơn và kiếm được nhiều tiền hơn. Và khi bạn có thể đang tiến hành nhiều các hình thức quảng cáo khác nhau (Google Adwords, Quảng cáo Banner, Textlink) thì khách hàng truy cập có giá trị nhất là những khách hàng đến từ các máy tìm kiếm.

Các traffic tự nhiên từ máy tìm kiếm như Google, Yahoo là miễn phí nhưng cũng có một số ngoại lệ để có được lưu lượng truy cập. Việc xây dựng và cải thiện website của bạn góp phần quan trọng giúp cho việc tối ưu trên bộ máy tìm kiếm được hiệu quả.

Xem xét trang web để tìm những phương pháp cải thiện lưu lượng truy cập và thứ hạng, bạn có thể tham khảo rất nhiều những chào mời của các dịch vụ SEO của các công ty khác.

Nhưng nếu bạn chưa bao giờ ký hợp đồng với một công ty SEO trước đây thì bạn có thể không biết liệu hợp đồng đó có đáng giá không. Bạn có muốn một chuyên gia SEO cho website của mình không? Câu trả lời rõ ràng là có.

Vì 5 lý do quan trọng sau đây:

1. Sâu sắc

Là một quản trị web, bạn có thể tiếp cận không hạn chế các tài liệu về SEO, có các diễn đàn về quản trị web và SEO để tham khảo và nhiều những khóa học phải trả phí, "các mánh lới" và các tài liệu.

Nhưng dù bạn đọc gì đi chăng nữa, bạn sẽ không bao giờ có thể tích lũy hết các kiến thức mà một chuyên gia của dịch vụ SEO có được. Tại sao ? Bởi vì bạn còn phải tập trung vào các nhân tố khác của website của mình. Một chuyên gia SEO có thể tập trung 100% vào SEO...bởi vì đó là công việc thường xuyên của họ.
2. Tính chuyên nghiệp

Một công ty cung cấp dịch vụ SEO hoạt động chỉ với việc tối ưu website cho các bộ máy tìm kiếm nên luôn phải bắt kịp các phương pháp và ý tưởng mới. Họ là các chuyên gia về SEO. Và phần lớn của công việc SEO chuyên nghiệp là sử dụng các phương pháp ít được biết đến mà các quản trị web không thể tự mình tiến hành được (phân tích tâm lý khách ghé thăm, sự tiện lợi của site bạn,...)
3. Các kết quả

Bạn có thể học các nhân tố tối ưu bộ máy tìm kiếm và tự tiến hành triển khai. Bạn có thể đăng các bài báo, thử sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội, và làm hết sức để tối ưu trang web cho các công cụ tìm kiếm. Thế nhưng các kết quả của bạn sẽ không tốt như bạn có được khi đến với các dịch vụ SEO. Tại sao lại vậy ? Bởi vì các chuyên gia về SEO không chỉ biết và sử dụng tất cả các phương pháp mà bạn làm, họ cũng có một loạt các phương pháp SEO thay thế. Các dịch vụ SEO có những kết quả mà bạn không thể đạt được...và họ làm việc đó một cách nhanh chóng.
4. Tiết kiệm thời gian

Làm việc để tối ưu hóa web cho công cụ tìm kiếm khá mất thời gian. Đôi khi là rất nhiều thời gian. Bạn phải cập nhật những phương pháp và tin tức mới, viết nội dung và bài viết, và xây dựng các đường links. Điều này không chỉ có mất công ...nó còn mất thời gian. Nếu bạn thuê các dịch vụ SEO để làm việc này cho mình bạn sẽ có nhiều thời gian rỗi để tập trung vào chuyên môn của mình.
5. Giá trị đầu tư

Một số dịch vụ SEO đòi trả phí cao hơn nơi khác và đôi khi dường như quá đắt. Nhưng bạn không nên có cái nhìn thiển cận. Nếu không có được sự trợ giúp về SEO nào mới là quá đắt. Bởi vì tiến hành tối ưu liên quan đến chi tiền...và bạn kết thúc việc chi tiêu nhiều hơn nữa vào các "thủ thuật" lãng phí mà không thể giúp ích gì cho bạn. Mặc dù đến một công ty SEO có nghĩa là phải chi tiền ra nhưng đó là một khoản đầu tư hiệu quả.

Vòng đời của tên 1 tên miền quốc tế

Tên miền quốc tế là quyền sở hữu của cá nhân (hoặc tổ chức) đã đăng ký với ICANN cho tới khi bạn không tiếp tục trả tiền để tiếp tục sử dụng.

Sau khi bạn không tiếp tục sử dụng tên miền đó, bạn có biết nó sẽ ra sao không?

Dưới đây là vòng đời của một tên miền quốc tế, bài viết này sẽ giúp bạn có khái niệm rõ ràng hơn trong việc đăng ký, sử dụng và bảo vệ tên miền của mình.



Vòng đời của 1 tên miền


1. Giai đoạn có thể đăng ký - Available

Đây là giai đoạn tên miền chưa được đăng ký. Bất cứ cá nhân (hoặc tổ chức) nào cũng đều có thể đăng ký nếu thỏa mãn điều kiện:

- Tên miền bao gồm chữ cái, chữ số hoặc dấu “ – “.

- Chiều dài tối đa của tên miền là 64 ký tự.

2. Giai đoạn đang hoạt động - Active

Tên miền đã được đăng ký trong giai đoạn này. Cá nhân (hoặc tổ chức) có thể đăng ký tên miền trong khoảng thời gian tối thiểu là 1 năm và tối đa là 10 năm cho một làn xử lý.

Trong giai đoạn này bạn có thể kiểm tra các thông tin hoạt động của tên miền trên các công cụ kiểm tra domain.

3. Giai đoạn Hết hạn - Expired

Thời điểm này tên miền đã hết hạn và không thể hoạt động được, điều đó đồng nghĩa với việc bạn không thể truy cập vào tên miền.

Bạn có thể kiểm tra trên who.is

4. Auto renew - Tự động gia hạn

Sau khi hết hạn tên miền rơi vào khoảng thời gian “chờ đợi”. Trong khoảng thời gian này tên miền không hoạt động được, nhưng không ai có thể đăng ký được tên miền này.

Thông thường bạn sẽ có 40 ngày để chờ gia hạn (đối với các tên miền .com, .net, .org, .info …). Tuy nhiên thời gian chờ để gia hạn cho các tên miền là khác nhau, có 1 số tên miền đặc biệt:


Tên miền .EU: không có thời gian chờ gia hạn, nó sẽ hết hạn vào ngày cuối cùng thứ 2 của tháng mà tên miền sẽ hết hạn.
Tên miền .UK: thời gian chờ của tên miền này lên tới 90 ngày sau khi hết hạn.
Tên miền .WS: không có thời gian chờ gia hạn
Tên miền .NAME: không có thời gian chờ gia hạn.
Tên miền .TEL: sẽ có 30 ngày chờ gia hạn.
Tên miền .CO: sẽ có 15 ngày chờ gia hạn.
Tên miền .DE: không có thời gian chờ gia hạn và chờ xóa.


5. Redemption

Ở giai đoạn này toàn bộ thông tin của tên miền đã bị xóa. Mọi hoạt động của tên miền đều chấm dứt. Nếu bạn muốn gia hạn cho tên miền ở thời điểm này bạn sẽ phải trả phí khoảng 200 USD (chưa bao gồm 10% thuế GTGT).

ACRO sẽ liên hệ trực tiếp với Registrar và yêu cầu họ restore lại tên miền nếu tên miền của bạn trong tình trạng này.

6. Pending Delete - Chờ xóa

Thời điểm này tên miền không thể được gia hạn. Và tùy vào mỗi tên miền mà có thời gian chờ xóa khác nhau. Thông thường thời gian chờ xóa là 5 ngày. Tuy nhiên, có 1 số tên miền đặc biệt:


Tên miền .EU: sẽ bị xóa ngay trong ngày hết hạn nếu không được gia hạn ngay.
Tên miền .UK: tên miền này sẽ bị xóa khỏi hệ thống sau 90 ngày chờ gia hạn.
Tên miền .WS: ngay sau khi hết hạn tên miền sẽ bị xóa. Sau khi tên miền bị xóa có thể đăng ký mới.
Tên miền .NAME: có 5 ngày chờ xóa.
Tên miền .TEL: sẽ có 5 ngày chờ xóa tên miền. Tên miền sẽ nằm trong tình trạng Delete Lockdown 60 ngày và sau đó có thể đăng ký mới.
Tên miền .CO: sẽ có 5 ngày chờ xóa.
Tên miền .DE: sẽ bị xóa ngay sau khi hết hạn và có thể đăng ký mới.


7. Released (Available) - Có thể mua

Tên miền trở về giai đoạn đầu Available, có thể đăng ký lại và bắt đầu một vòng đời mới.

Tên miền nằm ở giai đoạn nào của vòng đời này hoàn toàn do bạn quyết định. Vì vậy hãy gia hạn tên miền đúng hạn để tên miền phục vụ cho mình.

Theo Acro.vn

Giới thiệu công nghệ dotnet

ASP.NET sử dụng .NET Framework, .NET Framework là sự tổng hợp tất các các kỷ thuật cần thiết cho việc xây dựng một ứng dụng nền desktop, ứng dụng web, web services...

ASP.NET là một nền tảng ứng dụng web (web application framework) được phát triển và cung cấp bởi Microsoft, cho phép những người lập trình tạo ra những trang web động, những ứng dụng web và những dịch vụ web. Lần đầu tiên được đưa ra thị trường vào tháng 2 năm 2002 cùng với phiên bản 1.0 của .NET framework, là công nghệ nối tiếp của Microsoft's Active Server Pages(ASP). ASP.NET được biên dịch dưới dạng Common Language Runtime (CLR), cho phép những người lập trình viết mã ASP.NET với bất kỳ ngôn ngữ nào được hỗ trợ bởi .NET language.

Trong nhiều năm qua, ASP đã được cho rằng đó thực sự là một lựa chọn hàng đầu cho web developers trong việc xây dựng những web sites trên nền máy chủ web Windows bởi nó vừa linh hoạt mà lại đầy sức mạnh. Đầu năm 2002, Microsoft đã cho ra đời một công nghệ mới đó chính là ASP.NET. Đây thực sự là một bước nhảy vượt bậc của ASP cả về phương diện tinh tế lẫn hiệu quả cho các developers. Nó tiếp tục cung cấp khả năng linh động về mặt hỗ trợ ngôn ngữ, nhưng hơn hẳn về mặt lĩnh vực ngôn ngữ script vốn đã trở nên hoàn thiện và trở thành ngôn ngữ cơ bản của các developers. Việc phát triển trong ASP.NET không chỉ yêu cầu hiểu biết về HTML và thiết kế web mà còn khả năng nắm bắt những khái niệm của lập trình và phát triển hướng đối tượng.

Tuy mang họ tên gần giống như ASP cổ điển nhưng ASP.NET không phải là ASP. Ta sơ lược ở đây vài khác biệt giữa ASP.NET và ASP để bạn có khái niệm tổng quát và sẽ trình bày thêm chi tiết khi đào sâu vào từng điểm đặc trưng (features) của ASP.NET.

KHÁC BIỆT GIỮA ASP.NET VÀ ASP

ASP.NET được phác thảo (re-design) lại từ số không, nó được thay đổi tận gốc rễ và phát triển (develop) phù hợp với yêu cầu hiện nay cũng như vạch một hướng đi vững chắc cho tương lai Tin Học. Lý do chính là Microsoft đã quá chán nãn trong việc thêm thắt và kết hợp các công dụng mới vào các kiểu mẫu lập trình hay thiết kế mạng theo kiểu cổ điển nên Microsoft nghĩ rằng tốt nhất là làm lại một kiểu mẫu hoàn toàn mới thay vì vá víu chổ này chổ nọ vào ASP. Ðó là chưa kể đến nhiều phát minh mới ra đời sau này dựa trên các khái niệm mới mẽ theo xu hướng phát triển hiện nay của công nghệ Tin Học (Information Technology) cần được đưa vào kiểu mẫu phát triển mới đó. Nhờ vậy, ta mới có thể tạm nói ASP.NET không phải là ASP. Thật vậy , ASP.NET cung cấp một phương pháp hoàn toàn khác biệt với phương pháp của ASP.

Mặc dù ASP.NET và ASP khác biệt nhau nhưng chúng có thể hoạt động vui vẽ hài hoà với nhau trong Web Server (operate side-by-side). Do đó, khi cài ASP.NET engine, chúng ta không cần lập trình lại các ứng dụng hiện có dưới dạng ASP của tuy rằng, nếu muốn, bạn có thể làm điều đó rất dễ dàng.
SỰ THAY ÐỔI CƠ BẢN


ASP đã và đang thi hành sứ mạng được giao cho nó để phát triển mạng một cách tốt đẹp như vậy thì tại sao ta cần phải đổi mới hoàn toàn?

Lý do đơn giản là ASP không còn đáp ứng đủ nhu cầu hiện nay trong lãnh vực phát triển mạng của công nghệ Tin Học. ASP được thiết kế riêng biệt và nằm ở tầng phiá trên hệ điều hànhWindows và InternetInformation Server, do đó các công dụng của nó hết sức rời rạt và giới hạn.

Trong khi đó, ASP.NET là một cơ cấu trong các cơ cấu của hệ điều hành Windows dưới dạng nền hay khung .NET (.NET framework), như vậy ASP.NET không những có thể dùng các object của các ứng dụng cũ mà còn có thể sử dụng tất cả mọi tài nguyên mà Windows có.

Ta có thể tóm tắt đại khái sự thay đổi như sau:
Tập tin của ASP.NET (ASP.NET file) có extension là .ASPX, còn tập tin của ASP là .ASP.
Tập tin của ASP.NET (ASP.NET file) được phân tích ngữ pháp (parsed) bởi XSPISAPI.DLL, còn tập tin của ASP được phân tích bởi ASP.DLL.
ASP.NET là kiểu mẫu lập trình phát động bằng sự kiện (event driven), còn các trang ASP được thi hành theo thứ tự tuần tự từ trên xuống dưới.
ASP.NET xử dụng trình biên dịch (compiled code) nên rất nhanh, còn ASP dùng trình thông dịch (interpreted code) do đó hiệu suất và tốc độ phát triển cũng thua sút hẳn.
ASP.NET yểm trợ gần 25 ngôn ngữ lập trình mới với .NET và chạy trong môi trường biên dịch (compiled environment), còn ASP chỉ chấp nhận VBScript và JavaScript nên ASP chỉ là một scripted language trong môi trường thông dịch(in the interpreter environment). Không những vậy, ASP.NET còn kết hợp nhuần nhuyễn với XML (Extensible Markup Language) để chuyển vận các thông tin (information) qua mạng.

ASP.NET yểm trợ tất cả các browser và quan trọng hơn nữa là yểm trợ các thiết bị lưu động (mobile devices). Chính các thiết bị lưu động, mà mỗi ngày càng phổ biến, đã khiến việc dùng ASP tron gviệc phát triển mạng nhằm vươn tới thị trường mới đó trở nên vô cùng khó khăn.

PHƯƠNG PHÁP LÀM VIỆC TRONG MẠNG

Internet đã và đang đem lại nhiều điều kỳ diệu cho đời sống của ta. Thật vậy, nó có khả năng 'nối vòng tay lớn' mọi người trên thế giới tưởng chừng như cách biệt xa xôi ngàn dặm bổng dưng lại gần trong gang tất, kỹ thuật này đã mang lại biết bao nhiêu điều mới mẽ đến cho ta tỷ như e-mail, instant messaging hay World Wide Web (hay gọi tắc là WWW hay Web hay mạng) làm việc thông tin liên lạc trở nên dễ dàng, do đó con người cùng đời sống cũng thay đổi nhanh chóng như 'cuốn theo chiều gió' vậy.

Từ khởi đầu, việc phát triển 1 mạng hết sức là đơn giản, chỉ cần một hay vài trang trong đó ta muốn chia sẽ bất cứ thông tin gì ta thích là chắc chắn cũng có người ghé qua thăm viếng. Tuy vậy, các trang trong thời kỳ khởi nguyên của mạng rất thụ động, nó không cho phép khách vãng lai trao đổi thông tin một cách hổ tương (interact) với ta, nghĩa là thăm thì có thăm nhưng không hỏi hay chia sẽ được gì với nhau.

Dần dà, mạng phát triển thêm nhiều công dụng khác nhau gắn thêm vào nào là hình ảnh, nào là tables, forms và cuối cùng có thể trao đổi thông tin hay tâm tình với khách vãng lai qua các ứng dụng như guestbook, thăm dò ý kiến (user, customer hoặc là client poll) hay các diễn đàn với mọi tiết mục trên trời dưới đất. Sau đó, các chuyên gia phát triển mạng lại thêm thắt và trang điểm cho mạng của mình càng lúc càng đặc sắc hơn, cùng muôn mầu muôn vẽ.

Tất cả những cố gắng đó đã đem tác động hổ tương đến giữa Web Master (hay nhóm quản lý mạng) và khách vãng lai như ta được chứng kiến hiện nay, tuy vậy vẫn còn thiếu hẳn 1 phần quan trọng nhất là phần nội dung cơ động tuỳ biến (dynamic content). Do đó vai trò của phương pháp dịch vụ (server processing) được phát triển để có thể trình bày nội dung được lưu trữ trong các cơ sở dữ liệu (database) tuỳ theo yêu cầu riêng biệt cho từng cá nhân.

KIỂU MẪU RESQUEST/RESPONSE

Kiểu mẫu này chính là toàn bộ phương pháp làm việc theo kiểu Client /Server hiện dùng với ASP.

Từ mới:

Client/Server - Một trường hợp đơn giản nhất là sự trao đổi thông tin giữa 2 máy vi tính để hoàn thành 1 công việc nào đó, trong đó máy server cung cấp dịch vụ theo yêu cầu của 1 máy khách hành (Client PC).

Thường thường, Server là máy vi tính lưu trữ thông tin về mạng trong đó có hình ảnh, video, những trang HTML hay ASP và Client là máy vi tính được dùng dể viếng thăm mạng. Một cách tổng quát phương pháp này gồm có 4 bước như sau:

1. Client (thông qua Internet Browser) xác định vị trí của Web Server qua 1 nối URL (Universal Resource Locator).
2. Client sẽ yêu cầu được tham khảo 1 trang trong mạng đó và thường thường là trang chủ (home page) như index.htm hay default.htm
3.Server đáp ứng bằng cách hoàn trả hồ sơ mà Client đã yêu cầu trước đây
4.Client nhận được hồ sơ gởi về và hiển thị (display) trong browser của mình

KIỂU MẪU EVENT-DRIVEN

Kiểu mẫu event-driven này dùng với ASP.NET cũng tương tợ như là kiểu mẫu event-driven mà ta vẫn thường dùng trong khi lập trình các ứng dụng với Visual Basic 6.

Trong kiểu mẫu này, Server sẽ không ngồi chơi xơi nước chờ Client yêu cầu tham khảo 1 trang nào đó trong mạng mà Server đã bố trí và kế hoạch sẵn trước tất cả mọi tình huống để có thể hành động kịp thời mỗi khi Client quyết định làm 1 điều gì đó. Ta gọi đó là 'response to your action', còn trong kiểu mẫu trước là 'response to your request', như vậy ASP.NET có thể phát hiện ra các hành động của Client để phản ứng cho thích hợp.

Ðọc tới đây chắc bạn sẽ hỏi lại ngay rằng: 'Ủa, nhưng mà làm sao một Server nào đó, có thể ở tận đâu đâu bên kia địa cầu, lại biết được là ta đang gõ vài mẫu tự trong một hộp chữ hay là đang nhấp mũi chuột (click) vào button trong phần Guestbook hay Forum

À, sở dỉ Server có thể làm được 'chuyện khó tin nhưng có thiệt đó' là dựa vào tiến trình xử lý linh động ở Client (gọi là clever client-side processing) để thực hiện kiểu mẫu event-driven này của mình. Tiến trình xử lý ở Client xảy ra khi ta bố trí nguồn mã thích hợp mà Client có thể hiểu được trong các trang ta gởi về cho Client. Lưu ý là mặc dù các trang mạng (web page) ta đều chứa ở Server nhưng nguồn mã lại có thể được thực hiện và xử lý, hoặc ở Server hoặc ở Client (Server-Side processing và Client-Side processing) tuỳ theo cách ta bố trí. Thật vậy, ASP.NET không thể nào biết được chuyện gì sẽ xãy ra ở máy vi tính của bạn (Client PC) nhưng cũng nhờ vào tiến trình xử lý linh động ở Client mà Server có thể tiến hành kiểu mẫu phát triển mạng mới theo phương pháp event-driven.

Chúng ta có thể chạy nguồn mã ở 2 chỗ khác nhau: hoặc là chạy ở Server (gọi là Server-side) hoặc là chạy ở Client (Client-side) và các nguồn mã ở 2 chỗ này hoàn toàn khác biệt và không có tác động hổ tương với nhau (no interact with each other). Ðiều đó có nghĩa là máy Client sẽ chịu trách nhiệm thi hành các nguồn mã được lập trình dành cho mình cũng như máy Server chỉ chạy các nguồn mã dành cho Server. Thông tin hay nội dung cần thiết ở Server sẽ được chuyển sang dạng HTML đơn giản (plain HTML) trước khi gởi đến cho Client, thường thì nguồn mã dành cho Client cũng được chuyển đi dưới dạng 'plain text command' để thực hiện các hiệu ứng năng động (dynamic effect) ở máy Client, tỷ như thay đổi hình ảnh (image rollover) hay hiển thị một thông điệp (message box).

ASP.NET sẽ dùng các ngôn ngữ mới có trình biên dịch (compiled languages) như C# hay VB.NET để soạn các nguồn mã trong các trang Web ở Server.

ASP.NET là một kỹ thuật phía server (server-side) dành cho việc thiết kế các ứng dụng web trên môi trường .NET.

ASP.NET là một kỹ thuật server-side. Hầu hết những web designers bắt đầu sự nghiệp của họ bằng việc học các kỷ thuật client-side như HTML, JavaScript và Cascading Style Sheets (CSS). Khi một trình duyệt web yêu cầu một trang web được tạo ra bởi các kỷ thuật client-side, web server đơn giản lấy các files mà được yêu cầu và gửi chúng xuống. Phía client chịu trách nhiệm hoàn toàn trong việc đọc các định dạng trong các files này và biên dịch chúng và xuất ra màn hình.

Với kỹ thuật server-side như ASP.NET thì hoàn toàn khác, thay vì việc biên dịch từ phía client, các đoạn mã server-side sẽ được biên dịch bởi web server. Trong trường hợp này, các đoạn mã sẽ được đọc bởi server và dùng để phát sinh ra HTML, JavaScript và CSS để gửi cho trình duyệt. Chính vì việc xử lý mã xảy ra trên server nên nó được gọi là kỹ thuật server-side.

ASP là một kỹ thuật dành cho việc phát triển các ứng dụng web. Một ứng dụng web đơn giản chỉ các trang web động. Các ứng dụng thường được lưu trữ thông tin trong database và cho phép khách truy cập có thể truy xuất và thay đổi thông tin. Nhiều kỹ thuật và ngôn ngữ lập trình khác cũng đã được phát triển để tạo ra các ứng dụng web như PHP, JSP, Ruby on Rails, CGI và ColdFusion. Tuy nhiên thay vì trói buộc bạn vào một ngôn ngữ và một công nghệ nhất định, ASP.NET cho phép bạn viết ứng dụng web bằng các loại ngôn ngữ lập trình quen thuộc khác nhau.

ASP.NET sử dụng .NET Framework, .NET Framework là sự tổng hợp tất các các kỷ thuật cần thiết cho việc xây dựng một ứng dụng nền desktop, ứng dụng web, web services.... thành một gói duy nhất nhằm tạo ra cho chúng khả năng giao tiếp với hơn 40 ngôn ngữ lập trình.

Thậm chí với những sự lý giải kỹ càng như vậy, bạn vẫn ngạc nhiên tự hỏi điều gì làm nên một ASP.NET tốt như vậy. Sự thật là có rất nhiều kỹ thuật server-side với điểm mạnh và điểm yếu riêng nhưng ASP.NET có những tính năng gần như là duy nhất.

ASP cho phép bạn sử dụng ngôn ngữ lập trình mà bạn ưa thích hoặc gần gũi với chúng. Hiện tại, thì .NET Framework hỗ trợ trên 40 ngôn ngữ lập trình khác nhau mà đa phần đều có thể được sử dụng để xây dựng nên những web sites ASP.NET. Chẳng hạn như C# (C sharp) và Visual Basic.

Nhưng trang ASP.NET được Compiled chứ không phải là Interpreted. Khác với các trang ASP được Interpreted, điều này có nghĩa là mỗi lần người dùng yêu cầu một trang, máy chủ sẽ đọc các đoạn mã vào bộ nhớ, xử lý cách thức thực thi các đoạn mã và thực thi chúng. Đối với ASP.NET, máy chủ chỉ càn xử lý cách thức thực thi một lần duy nhất. Đoạn mã sẽ được Compiled thành các files mã nhị phân cái mà được thực thi rất nhanh mà không cần phải đọc lại. Chính điều này tạo ra bước tiến nhảy vọt về hiệu suất so với ASP

ASP đã cả khả năng toàn quyền truy xuất tới các chức năng của .NET Framework. Hỗ trợ XML, web services, giao tiếp với CSDL, email... và rất nhiều các kỹ thuật khác được tích hợp vào .NET, giúp bạn tiết kiệm được công sức.

ASP cho phép bạn phân chia các đoạn mã server-side và HTML. Khi bạn phải làm việc với cả đội ngũ lập trình và thiết kế, sự tách biệt này cho phép các lập trình viên chỉnh sửa server-side code mà không cần dính dáng gì tới đội ngũ thiết kế.

ASP giúp cho việc tái sử dụng những yếu tố giao diện người dùng trong nhiều web form vì nó cho phép chúng ta lưu các thành phần này một cách độc lập.
Bạn có được một công cụ tuyệt vời hỗ trợ phát triển các ứng dụng ASP.NET hoàn toàn miễn phí, đó là Visual Web Developer, một trình soạn thảo trực quan mạnh mẽ có tính năng Code Autocompletion, Code Format, Database Integration Functionality, Visual HTML editor, Debugging...